CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC ĐẾN CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ HỌC CỦA NỀN ĐƯỜNG ĐẮP TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG BÃO HÒA 1. Môi trường đất bão hòa và không bão hòa Đất bão hòa là trạng thái đất khi các lỗ rỗng bị lấp đầy bởi nước (áp suất nước lỗ rỗng có giá trị dương, vị trí nằm dưới mực nước ngầm); đất không bão hòa khi các lỗ rỗng chỉ bị lấp đầy một phần bởi nước, phần còn lại của lỗ rỗng là khí (áp suất nước lỗ rỗng có giá trị âm, vị trí nằm trên mực nước ngầm) [3]. Đất bão hòa có thể được chuyển sang trạng thái không bão hòa khi xuất hiện quá trình bốc hơi, ngược lại chuyển từ trạng thái không bão hoà sang bão hoà khi có sự bổ sung nước do mưa, bị ngập hoặc mực nước ngầm dâng cao [3].
Nước mưa thấm vào đất hình thành dòng thấm.1, khi mực nước ngầm dâng lên từ vị trí đường AB đến A’B’, làm tăng áp suất nước lỗ rỗng ở vùng bão hoà, giảm áp suất nước lỗ rỗng ở vùng không bão hoà, dẫn đến giảm cường độ chống cắt của đất và nguy cơ mất ổn định mái dốc/nền đường [3]. Cơ chế phá hoại mái dốc do mưa [112] Nghiên cứu của Fredlund và Morgensten (1976) [61] chỉ ra rằng khi phân tích ứng suất của một môi trường liên tục nhiều pha cần phải thừa nhận pha trung gian khí – nước ứng xử như một pha độc lập.2 biểu thị sơ đồ hóa các vùng bão hoà – vùng mao dẫn – vùng không bão hoà ứng với các pha độc lập theo thể tích – khối lượng của đất [112]. Sơ đồ phân chia các vùng không bão hoà – vùng mao dẫn – vùng bão hoà trong kết cấu nền đắp [112] Rahardjo và cộng sự (2007) [111] đã sơ đồ hóa quá trình thay đổi áp suất nước lỗ rỗng của đất nằm trên mực nước ngầm trong điều kiện có mưa hoặc bốc hơi (Hình 1. Sơ đồ sự thay đổi của áp suất nước lỗ rỗng của đất không bão hoà trong điều kiện có mưa hoặc bốc hơi [111] Hình 1.3 cho thấy, khi bề mặt đất được che phủ kín, không chịu tác động của các quá trình mưa và bốc hơi, áp suất lỗ rỗng phân bố theo đường thẳng – tuân theo quy luật thuỷ tĩnh (đường số 1).
Trong điều kiện khí hậu khô hạn, không có mưa, chỉ có quá trình bốc hơi nước từ bề mặt/từ đất, làm giảm độ ẩm của đất, tăng lực hút dính, kết quả đường áp suất nước lỗ rỗng dịch chuyển về bên trái so với đường thuỷ tĩnh (đường số 2), cường độ chống cắt của đất tăng lên kéo theo tăng hệ số ổn định mái dốc/khối đắp. Vùng thay 6 đổi lớn nhất thuộc khu vực gần mặt đất so với khu vực bên dưới. Thời gian bốc hơi càng dài, đường áp suất nước lỗ rỗng càng có xu hướng dịch chuyển nhiều về bên trái. Ngược lại, trong điều kiện có mưa, lượng nước thấm vào trong đất kéo theo đường áp suất nước lỗ rỗng dịch chuyển về bên phải (đường số 3) so với đường thuỷ tĩnh làm thu hẹp vùng không bão hòa, giảm cường độ chống cắt dẫn đến giảm hệ số ổn định mất ổn định mái dốc.
Vai trò của áp suất nước lỗ rỗng âm hay lực hút dính làm tăng cường độ chống cắt của đất không bão hòa được chỉ ra trong nghiên cứu của Fredlund [3]. Nghiên cứu thực nghiệm đã phát triển một số thiết bị cho phép đo đạc áp suất nước lỗ rỗng âm đảm bảo độ chính xác nhất định. Việc phân tích ổn định mái dốc/nền đường không bão hòa trong thực tế cần được mở rộng trạng thái cân bằng giới hạn có xét đến các thành phần của cường độ chống cắt của đất gây ra bởi áp suất nước lỗ rỗng âm [3] [11]. Tổng quan về các đặc trưng cơ học của đất không bão hòa Tính nén lún, đường cong đặc trưng đất – nước, hệ số thấm và cường độ chống cắt là các đặc trưng cơ bản của đất không bão hòa.
Về mặt cơ học, đất bão hòa và không bão hòa khác biệt cơ bản về các đặc trưng cơ học này [3]. Đường cong đặc trưng đất – nước (SWCC) là thông số cơ bản của cơ học đất không bão hòa. Thông số cơ bản này chi phối các đặc trưng cơ học của đất không bão hoà như hệ số thấm, cường độ chống cắt và biến thiên thể tích của đất [3]. Đường cong SWCC và hệ số thấm là các thông số cần thiết cho phép phân tích ứng xử cơ học/ổn định của khối đất không bão hòa trong điều kiện nước mưa thấm vào mái dốc/khối đắp [66].
Cường độ chống cắt của đất đóng vai trò quan trọng trong phân tích các bài toán địa kỹ thuật như sức chịu tải của nền đường và sự ổn định của mái dốc/khối đắp [11], [63], đặc biệt cho đất không bão hoà. Cường độ chống cắt của đất không bão hòa khác đất bão hòa ở chỗ có thêm thành phần liên quan đến lực hút dính [66]. Hệ số thấm và cường độ chống cắt cho phép phân tích các bài toán thấm không ổn định; thấm do sự bổ sung nước mưa; sự ổn định mái dốc theo thời gian khi có sự thay đổi về độ ẩm/hàm lượng nước, áp suất nước lỗ rỗng, đường bão hòa của đất [3] [11]. Các nghiên cứu trong phạm vi cơ học đất không bão hòa chủ yếu tập trung vào các vấn đề về ứng xử cơ học: (i) sự thay đổi thể tích; (ii) sự thay đổi cường độ chống cắt của đất, (iii) dòng thấm trong môi trường rỗng trong kết cấu của đất [122].
Tính nén lún – biến đổi thể tích 7 Sự xuất hiện của pha nước trong đất làm thay đổi các đặc trưng cơ học của đất không bão hòa. Về mặt vật lý, sự tham gia của pha nước làm thay đổi độ ẩm và độ bão hòa của đất. Về mặt cơ học, nước chiếm một phần hoặc toàn bộ thể tích rỗng của đất làm thay đổi áp suất nước lỗ rỗng và kết quả làm giảm sức chịu tải và sức kháng cắt của đất [3]. Sự thay đổi áp suất nước lỗ rỗng bởi sự có mặt của nước dẫn đến thay đổi khả năng thấm trong điều kiện tải trọng và gradient thủy lực không đổi [3], [45].
Nhìn chung, sự tham gia của pha nước ảnh hưởng đến biến dạng lún, lún cố kết thấm của nền đường dẫn đến nguy cơ mất ổn định của khối đất như lún, nứt, sạt trượt và xói ngầm trong thân công trình cấu tạo bằng đất đắp [45]. Sự thay đổi thể tích của vật liệu đất/hạt không bão hòa có thể được gây ra bởi sự thay đổi của ứng suất giới hạn bên hoặc bởi sự thay đổi của bản thân nội tại của chất lỏng (chẳng hạn sự thay đổi ma trận lực hút dính) [45]. Sự thay đổi thể tích của vật liệu đất/hạt không bão hòa có thể được biểu thị thông qua biến dạng hoặc liên quan đến chuyển vị tương đối giữa các pha cấu thành tổng thể khối vật liệu [45] (chẳng hạn sự thay đổi hàm lượng của pha nước). Sự thay đổi các đặc tính về cường độ chống cắt – quan hệ ứng suất và biến dạng Trong khuôn khổ của cơ học đất cổ điển, Terzaghi (1936) [129] đã giới thiệu khái niệm ứng suất hiệu quả đối với trường hợp đặc biệt của đất bão hòa.
Terzaghi đã phát biểu nguyên lý của ứng suất hiệu quả và khái niệm ứng suất hiệu quả đóng vai trò nền tảng cơ bản cho nghiên cứu cơ học môi trường đất bão hòa và hiện tại được thừa nhận bởi cộng đồng khoa học về cơ học đất. Biot (1941) [33] tiếp tục khái niệm ứng suất hiệu quả của Terzaghi và đã đưa ra lý thuyết lún cố kết đối với môi trường đất bão hòa không bao gồm pha khí, hai pha đất và nước được xem xét trong một thể thống nhất, kết hợp và được giải độc lập. Ứng xử của môi trường đất không bão hòa phức tạp hơn. Trạng thái ứng suất của vật liệu đất không bão hòa khác biệt so với đất bão hòa [45].
Sự khó khăn của nghiên cứu vật liệu đất không bão hòa ở chỗ làm thế nào có thể xem xét các ảnh hưởng khác nhau của hàm lượng nước và quy luật thay đổi thể tích nén/nở ra của thể tích vật liệu [45]. Theo lý thuyết của Terzaghi, biến trạng thái ứng suất của đất bão hòa có thể được biểu diễn dưới dạng phương trình: r uw (1.1) 8 Trong đó r là ứng suất hiệu quả, là ứng suất tổng, và uw là áp suất nước lỗ rỗng. Việc mở rộng khái niệm ứng suất hiệu quả của Terzaghi cho trường hợp vật liệu đất không bão hòa là thực tế và cần thiết. Không ít nghiên cứu đã cố gắng phát triển biểu thức tương tự (1.1) trong đó các kiến nghị đều đưa ra biến ứng suất có hiệu đơn hoặc biến trạng thái ứng suất.
Bishop (1960) [36], Bishop và cộng sự (1963) [37] là những người tiên phong đã đề nghị biểu thức: r ua ua uw (1.2) Trong đó u a là áp suất khí lỗ rỗng và là tham số liên quan đến độ bão hòa. Tham số được gọi là tham số ứng suất hiệu quả. Giá trị của bằng 1 trong trường hợp vật liệu đất bão hòa và bằng 0 trường hợp vật liệu khô. Biểu thức tương tự cũng được đề nghị bởi Aitchison và Donald (1956) [20].
Các biểu thức đề nghị cho phép mô tả sự chuyển tiếp đơn giản từ các trạng thái bão hòa/bão hòa hoàn toàn (ở đó bao hàm biểu thức kiến nghị của Terzaghi) đến không bão hòa/bão hòa không hoàn toàn và trạng thái hoàn toàn khô. Việc xác định và sự phụ thuộc của vào hàm lượng của nước trong đất là cần thiết để xác định ứng suất hiệu quả trong môi trường đất không bão hòa. Bishop và Donald 1960 [35], Bishop và Blight (1963) [37] đã thực nghiệm đối với đất rời, đất được đầm nén và thừa nhận sự phù hợp của phương trình (1. Quan hệ giữa tham số ứng suất hiệu quả và độ bão hòa với các loại đất khác nhau [106], [138] Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trước đó chủ yếu tập trung vào xác định quan hệ giữa và độ bão hòa s w .4 chỉ ra hàng loạt các quan hệ giữa và s w đối với 9 phạm vi rộng các loại đất khác nhau [36], [38], [84].
Các đường cong đều chứng tỏ được xu thế của thay đổi theo độ bão hòa s w .