CHƯƠNG 1 ĐẶC DIEM TỰ NHIÊN, KINH TE XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Đông bang Tuy Hòa là một trong những đồng băng duyên hai Nam Trung bộ thuộc địa phận tỉnh Phú Yên với diện tích nghiên cứu là 435 km”. Phía Đông giáp với biển, các phía còn lại giáp với các huyện ly trong tỉnh và được giới hạn bởi toa độ địa lý như sau: Từ 12”89°64°° đến 13”18'93°° Vĩ độ Bac; Từ 109°08°87° đến 109°44°71°? Kinh độ Đông. TINH BÌNH ĐỊNH <a LAI TIGNHA HANH Hình 1.1 —Sơ do vị tri vùng nghiên cứu 1.
ĐẶC DIEM DIA HÌNH Khu vực nghiên cứu thuộc địa phận tỉnh Phú Yên năm ở sườn phía Đông dãy Trường Sơn, phía Đông Nam địa khối Kon Tum và phía Đông Bac khối Da Lạt, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng bởi nhiều hoạt động kiến tạo. Vùng nghiên cứu mang đặc điểm địa hình dạng núi thấp chuyển dan sang đồng băng va dải cát, dun cát ven biển. Gồm các dạng địa hình chủ yếu sau: 1. Địa hình đôi núi thấp: Phân bố ở phía Bắc và Tây Bắc, rải rác ở phần trung tâm TP.Tuy Hòa, có độ cao tuyệt đối từ 70-389 m, độ dốc từ 5°-15° đến 35”.
Thấp nhất là núi Nhạn ở trung tâm TP.2) cao khoảng 70 m, cao nhất là núi Chop Chai nam phia Bac vùng nghiên cứu (hình 1. Bê mặt dia hình dang bị tác động của các quá trình chia cắt, phá hủy, bóc mòn bởi các tác nhân khí quyền, thủy quyền, sinh quyền va con người. Sản phẩm của các quá trình này được những dòng chảy trên mặt mang đi và tích tu lại chủ yếu ở phía đồng bằng. Cau thành bề mặt địa hình là các thành tạo phun trào Ryolit hệ tang Nha Trang và biến chat Quaczit, phiến serixit hệ tầng Tiên An.2: Dac trung dia hinh đài Hình 1.3: Đặc trưng địa hình doi núi thấp trung tâm TP.
Tuy Hoa, "úi thấp phía Bắc vùng nghiên nui Nhan. cứu, núi Chép Chai. Dia hình đồng bang tích tu và các cồn cát ven biến: Phân bố rộng khắp vùng nghiên cứu với diện tích khoảng 435 km”. Chúng bị chia cắt bởi những dãy núi chạy sát ra bién nằm ở hạ lưu sông Đà Răng, sông Bàn Thạch, sông Chùa.
Bè mặt đồng bằng tích tụ đạt độ cao trung bình 5m, nơi cao nhất đạt 15m, với độ dốc từ 3-10”, thuộc loại đồng bang thap. Các côn cát ven biển cao từ 5-26 m với độ dốc từ 3-30”, phần phía Bắc địa hình cồn cát luôn bị thay đổi theo thời gian, do tác động của gió nên cát dé bị vận chuyền đi lại dé dàng trên địa hình này, điều này góp phân làm cho quá trình bốc hơi nước diễn ra mạnh hơn. Bé mặt địa hình thấp va khá băng phăng, thuộc loại đồng bang châu thé lại đang bị chia cắt bởi ba hệ thống sông Đà Rang, sông Bàn Thạch và sông Chùa, trong dé phân cắt mạnh nhất là sông Da Răng chia khu vực nghiên cứu ra làm hai phân: phía Bac Tuy Hòa và phía Nam Tuy Hòa. Sông dao lòng sâu khoảng 1-2m, ở phân phía Đông lại giáp với biển nên mực nước ngầm trong khu vực nghiên cứu năm nông.
Vùng cửa sông, do ảnh hưởng của nước biển tạo nên các vùng nước lo ven biên rộng hang trăm hecta, thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Câu thành bề mặt địa hình là các thành tạo tuổi Holocen và Pleistocen gom nhiều nguồn gốc khác nhau: sông, sông biến, gió, sông đầm lay, biển dam lay. Các thành tạo này cau thành tầng chứa nước ở khu vực nghiên cứu. ĐẶC DIEM KHÍ HẬU Vùng nghiên cứu nằm trong đới khí hậu nhiệt đới âm gió mùa, phân ra hai mùa rõ rệt trong năm: mùa khô từ thang 1 đến tháng 8 hàng năm, chịu ảnh hưởng của gió Tây nên khí hậu khô nóng: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, áp thấp nhiệt đới, bão và mưa nhiễu.
Theo tài liệu quan trắc tại trạm khí tượng thủy văn Tuy Hòa từ năm (1977 - 2006) thì khí hậu vùng nghiên cứu mang những đặc điểm sau: 1. Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 26,6°C, trung bình tháng lạnh nhất 233°C (thang 1), trung bình tháng nóng nhất 29,3°C (tháng 6). Nhìn chung, nhiệt độ trung bình tháng dao động không nhiều: từ 233°C đến 29.1 — Nhiệt trung bình tháng tai trạm Tuy Hoa (°C) Thời kỳ quan trac 1 2 3 4 5 6 7 | 8 9 | 10 | 11 | 12 | Năm 1977-2005 | 233 | 23. Độ am: Độ am tương đối trung bình năm 80%, mùa mua có độ âm cao hơn, trung bình các tháng dat 83%, dao động từ 80% đến 85% và ít hơn vào mùa khô, trung bình đạt 82%, dao động từ khoảng từ 74% đến 84%.2 — Độ ẩm trung bình tháng tại trạm Tuy Hòa (%) Thời kỳ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 | 11 | 12 Năm quan trắc 1977-2005 | 83 84 83 81 78 74 74 74 S0 85 85 84 80.
Bốc hoi: Theo số liệu quan trắc khí tượng tại trạm Tuy Hòa thì lượng bốc hơi trung bình năm đo băng ống Piche khoảng 1386 mm. Lượng bốc hơi trung bình tháng dao động trong phạm vi (75-180) mm. Qua biểu đồ lượng bốc hơi thể hiện ở hình 1.4 cho thấy: từ tháng 5 đến tháng 8 đều có lượng bốc hơi lớn, trong đó tháng 7 có lượng bốc hơi trung bình tháng lớn nhất; từ tháng 10 đến tháng 12 có lượng bốc hơi trung bình tháng thấp nhất. 700 600 500 Gtmira, Thang —e—béc hơi —*—mua Hình 1.4 —Luong mưa và bốc hơi trung bình thang nhiễu năm (1979-2005) tại trạm Tuy Hoa 1.
Lượng mưa: Qua biểu đồ thé hiện ở hình 1.4, lượng mưa trung bình năm đạt 19957 mm trong đó lượng mưa trung bình các tháng mùa mưa đạt 1628mm, chiếm 82% lượng mưa cả năm và mùa khô đạt 367 mm chiếm 18% lượng mưa cả năm. Lượng mưa cao nhất tập trung vào tháng 10 và 11 còn lượng mưa thấp nhất rơi vào tháng 2. Gió: Tốc độ gió trung bình năm khoảng (2 -2,5) m/s. Vào mùa khô, tốc độ gió lớn nhất dat từ 2,4 m/s đến 2,5m/s rơi vào tháng 6 đến thang 8, do mua này chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng.
Vào mùa mưa, tốc độ gió lớn nhất đạt 3,1m/s rơi vào tháng 11 và tháng 12, do mùa này chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới. Hướng gió thịnh hành là hướng Tây Bac vào các tháng: 1, 2, 3, 11, 12; hướng gió Đông Bắc vào các tháng: 4, 5, 6; hướng gió Tây vào các tháng: 7, 8, 9.3 — Tốc độ gió trung bình tháng tại trạm Tuy Hòa (mm) Thời kỳ quan trắc 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Nam 1979-2005 | 2. ĐẶC DIEM THUY VAN -HAI VAN 1. Đặc điểm Thủy van Qua sơ đồ thể hiện ở hình 1.5 cho thấy vùng nghiên cứu đang bị phân cắt bởi ba hệ thống sông chính, đó là: sông Đà Rang, sông Bàn Thạch và sông Chùa.
Sông Đà Rang: hay còn gọi là sông Ba, sông bắt nguồn từ KonTum qua Gia Lai rồi đỗ ra biển Tuy Hòa với tổng chiều dài là 370 km, đoạn chảy qua vùng nghiên cứu khoảng 35 km, chiều rộng sông thay đổi từ 100-1000 m và lớn hơn ở phía cửa sông, sông nhánh là sông Đông Bò chảy qua vùng nghiên cứu khoảng 10km. Lưu lượng của dòng chảy không đều theo mùa, kết quả đo lưu lượng sông Da Rang ở trạm Củng Son (thể hiện ở bang 1.4) cho thay vào mùa khô đạt 120 m”/s, mùa mưa đạt cao nhất 826 m°/s (tháng 11), vào mua lỗ có năm dat 1860 m’/s. ve phía hạ lưu, đoạn từ cua sông lên phía thượng lưu khoảng 5-6 km bi nhiễm mặn bởi triều biển. Qua tong hợp kết qua quan trắc môi trường nước mặt năm 2011 (thé hiện ở bảng 1.5) do trung tâm quan trắc môi trường Phú Yên thực hiện, cho thấy: lúc triều lên nước sông bị nhiễm mặn, tổng độ khoáng hóa lên đến 5,83g/l với hàm lượng Clo 3550mg/l, loại hình nước là Clorua-natri.
Khi triều xuống, nước sông đây mặn ra xa, nước trở nên nhạt có độ khoáng hóa 0,09g/I với hàm lượng clo 14,2mg/1, loại hình nước: Bicarbonat-clorua-natri.4—Lưu lượng nước Sông Ba (m5) Trạm | Năm/tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 | II 12 | năm củng 1977-2006 | 159 | 89.5 —S6 liệu phân tích mẫu nước sông Đà Rang Sô Hàm lượng các ion, % mgdl/1 Ghi i hiéu CT Kurlov | Nat | Ca" | Me |>#| cr | Hco; | so? chú mau Clyo Triéu DRI | 802 | 118 | 80 | 0,01 | 98,5 1,1 0,4 M ;., —— PH, ; đạo cường HCO}.09—— PH 63 Na,,Ca3, kém Sông Bàn Thạch: Ở thượng lưu gọi là sông Bánh Lái và đồ ra biến tai cửa Đà Nông. Lưu vực sông Bàn Thạch phân bồ trong địa phận tỉnh Phú Yên với tong chiều dài 68 km, có một số sông nhánh chính như: Sông Thoại (F = 166 km’), song Mỹ (95 km’) và sông Kè chảy qua vùng nghiên cứu với chiều dài 52 km. Đường phân nước giữa sông Đà Rang và sông Bàn Thạch không rõ ràng vì địa hình thấp (tương đối băng phắng) và có kênh mương nối liền kênh nam của hệ thống thuỷ lợi Đông Cam với sông Bánh Lái. Theo kết quả tính toán tổng lượng dòng chảy trung bình (thể hiện ở bảng 1.6) thời kì nhiều năm (1977-2006) của Dự án quy hoạch tổng thé khai thác sử dụng tài nguyên nước Phú Yên đến năm 2015 và dự báo đến năm 2020 và Báo cáo thu thập dữ liệu tài nguyên nước mặt Phú Yên năm 2010 do Trung tâm KT TV Phú Yên thực hiện thì lưu lượng nước trung bình nhiều năm khoảng 31 .4m/s, tổng lượng dòng chảy năm 0.6: Đặc trưng dong chảy trung bình trên sông Bàn Thạch Diện tích lưu vực Lưu lượng nước Tổng lượng dòng Mô đun Độ sâu dòng chảy (km?) (mẺ⁄s) chảy năm (km”) (1/s.0 1672 Qua tổng hợp kết quả quan trắc môi trường nước mặt năm 2011 do trung tâm quan trac môi trường Phú Yên thực hiện, cho thấy: từ biển đi về phía thượng lưu khoảng 2 km nước sông bị nhiễm mặn và nơi đây luôn bị nhiễm mặn mà nguyên nhân có thé là do cao độ đáy sông nơi nước sông đồ ra biển cao hon so với cao độ đáy sông phía bên trong nó và tạo ra địa hình dạng trũng, nên tại đây mặn bị giữ lại.
Thực tế cho thấy, khu vực này thường là nước lợ và ngư dân tập trung nuôi trồng II thủy sản. Loại hình nước giữa kỳ nước lớn và nước yêu là Clorua - natri (xem bảng 1. Vi tri lây mâu nước khi triểu cường và triều kém Hình 1.5 —Sơ do các sông trong vùng nghiên cứu Bang 1.