Đặt vấn đề nghiên cứu Tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều công trình giao thông đường bộ được đắp bằng đất yếu tại chỗ, do tính chất cơ lý yếu, không đủ thời gian cố kết nên rất dễ bị trượt, lở do tải trọng của phương tiện giao thông, tải trọng bản thân, mưa lũ. Từ lâu, dân ta đã biết thêm vào đất sét các loại rơm rạ, xơ sợi để làm vật liệu xây dựng và thời gian đã chứng minh được tính bền vững của loại vật liệu này. Xơ dừa là một trong những loại xơ sợi tự nhiên tốt nhất được biết đến, với tính chất cơ lý dẻo dai và trọng lượng riêng rất nhẹ. Do đó, tác giả tiến hành : “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của hàm lượng xi măng và sợi xơ dừa đến sức chống cắt của đất yếu” với mong muốn chứng minh xơ dừa có khả năng làm cho đất yếu tốt hơn từ đó có thể mở ra một khả năng mới sử dụng vật liệu xơ dừa của địa phương để cải tạo đất cho công trình nền đường, giải quyết đồng thời ba bài toán : kỹ thuật, kinh tế, môi trường.
Bến tre là địa phương sản xuất dừa lớn nhất khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. Theo Niên Giám Thống Kê tỉnh Bến Tre, năm 2014 Bến Tre có 67.382 ha diện tích trồng dừa, sản lượng đạt 525,81 nghìn tấn (quả), vì vậy khi nhắc đến dừa thì Bến Tre là cái tên đầu tiên được nghĩ tới. Mặt khác, đất ở Bến Tre chủ yếu là đất sét yếu không thuận lợi cho việc xây dựng công trình nhưng nhu cầu về hạ tầng giao thông thì không hề nhỏ. Vì thế, nghiên cứu này được thực hiện hướng đến đối tượng là đất khu vực tỉnh Bến Tre và sợi xơ dừa Bến Tre.
Mục đích nghiên cứu Xác định hàm lượng sợi xơ dừa và xi măng thích hợp để cải tạo đất yếu cho các công trình đắp. Xác định chiều cao đắp tối đa cho công trình đường. Phương pháp nghiên cứu Dựa trên lý thuyết về cơ chế đóng rắn của xi măng trong đất, ứng xử của sợi trong nền và ổn định mái dốc theo mặt trượt. Thực hiện các thí nghiệm trong phòng: nén đơn, cắt trực tiếp, đầm chặt với các hàm lượng xi măng và sợi xơ dừa khác nhau.
Dùng phần mềm Geo Slope/W - 2007 và Plaxis 8.5 để mô phỏng, tìm ra chiều cao đắp lớn nhất. Ý nghĩa khoa học Đề tài khảo sát được một số đặc trưng cơ lý quan trọng của một loại vật liệu mới. Cung cấp số liệu mang tính tham khảo cho các nghiên cứu về sợi trong đất. Cung cấp số liệu cần thiết để thiết kế tại khu vực tỉnh Bến Tre.
Giá trị thực tiễn Cải tạo đất yếu tại chỗ đủ khả năng sử dụng làm vật liệu đắp. Tiết kiệm chi phí khi xây dựng đường giao thông nông thôn. Sử dụng vật liệu phế thải của địa phương qua đó nâng cao thu nhập của người nông dân, tránh ô nhiễm môi trường. Giới hạn của đề tài Đề tài chỉ nghiên cứu cụ thể cho một loại đất yếu.
Đề tài chỉ nghiên cứu được phần cường độ, còn phần ứng xử của vật liệu này trong nền hỗn hợp (cố kết, tính thấm) thì chưa được đề cập. Các biến số trong bài toán thực nghiệm này còn hạn chế, ví dụ như : chiều dài sợi, cách sử lý sợi, các loại sợi xơ dừa khác nhau, công nghệ trộn… 3 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ GIA CỐ ĐẤT YẾU BẰNG XI MĂNG VÀ SỢI.1 Tổng quan về gia cố đất yếu bằng sợi Năm 1981 : Andersland, O.S (Michigan State University, USA) nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu hữu cơ đến sức chống cắt của đất. Thí nghiệm sử dụng sợi bã củ cải đường (pulp) hàm lượng 20% và đất kaolinite.S, McManis nghiên cứu về các đặc tính cường độ và biến dạng của đất gia cố sợi trên đất sét và đất cát.1: Quan hệ ứng suất và biến dạng của đất sét có và không có gia cường sợi theo Nataraj, M.2 : Quan hệ ứng suất, biến dạng tại các độ ẩm khác nhau của mẫu đất cát có gia cường 0.3% hàm lượng sợi theo Nataraj, M., nghiên cứu các đặc tính cường độ của đất sét bùn trộn ngẫu nhiên với sợi nylon.3 : Quan hệ ứng suất, biến dạng của đất sét trộn với sợi nylon theo Kumar, S và Tabor, E. (The University of Texas at Austin, USA) nghiên cứu về cường độ kháng cắt hiệu quả của đất gia cố bằng sợi polypropylene với hàm lượng sợi là 0.5% so với trọng lượng đất khô và đường kính mẫu thí nghiệm là 7.[4] Năm 2012 : Amin Chegenizadeh, Prof.
Hamid Nikraz (Curtin University of Technology, Australia) thí nghiệm : cắt trực tiếp và thí nghiệm CBR. Vật liệu : sợi cọ, đất cát pha sét. Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng, chiều dài sợi đến sức chống cắt, chỉ số CBR. Kết luận được khi tăng hàm lượng, chiều dài sợi thì : sức chống cắt tăng, tính dẻo tăng, CBR tăng, tỷ trọng khô giảm nhẹ và lý thuyết của Michalowski and Cermak phù hợp với kết quả thí nghiệm.4 : Kết quả thí nghiệm cắt trực tiếp với chiều dài sợi 10mm, áp lực 100kPa trong thí nghiệm của Amin Chegenizadeh, Prof.2 Tổng quan về gia cố đất yếu bằng sợi kết hợp xi măng Năm 1987 : R.
Craig đã nghiên cứu ứng xử của đất - xi măng thêm sợi so sánh với đất - xi măng không có sợi trong đất cát - pha sét về các chỉ tiêu cường độ chịu nén, chịu kéo, sức chống cắt, quan hệ ứng suất biến dạng, tính bền khi chịu chu kỳ khô ẩm. Kết quả trong 4 loại sợi : thép thẳng, thép móc, polypropylene, sợi thủy tinh; sợi thủy tinh cho kết quả tốt nhất (tăng 140% cường độ chịu kéo). of Rio Grande do Sul), Pedro D., School of Engrg. of Pelotas), Luciane A.
of Rio Grande do Sul) (Brazil) nghiên cứu ảnh hưởng của sợi thủy tinh đến ứng xử của đất gia cố xi măng. Thí nghiệm dùng sợi có chiều dài 12.8 mm và dùng lượng sợi 0% - 3% trọng lượng đất, xi măng khô. Kết quả cho thấy, sợi làm tăng cường độ dư, làm cho đất từ tính dòn chuyển sang tính dẻo. [7] Năm 2002 : Khaled Sodhan sử dụng đất á cát, xi măng portland từ 4 -12%, tro bay từ 4-10% trọng lượng khô của đất và sợi polyethylene cắt ra từ hộp sữa đã qua sử dụng với tỷ lệ 0.
Mục tiêu của thí nghiệm là nhằm xác định hàm lượng sợi tối ưu cho hỗn hợp composite xi măng. Kết quả cho thấy, sợi không làm tăng nhiều về cường độ, nhưng gia tăng rõ rệt về tính dẻo dai của vật liệu. [8] Năm 2006 : Chaosheng Tang, Bin Shi, Wei Gao, Fengjun Chen (Yi Cai. Nanjing University, China) nghiên cứu ứng xử về cường độ và các đặc tính cơ học của sợi polypropylene dạng ngắn và xi măng khi trộn với đất sét.5 : Quan hệ ứng suất, biến dạng của đất gia cường bằng xi măng và sợi trong thí nghiệm của Chaosheng Tang, Bin Shi, Wei Gao, Fengjun Chen.6 : Hiệu ứng “bắt cầu” của đất sét gia cố xi măng và sợi polypropylene trong thí nghiệm của Chaosheng Tang, Bin Shi, Wei Gao, Fengjun Chen.
8 Năm 2012 : Kim, Woo Sik·Jung, Du Hwoe·Cho, Il Muk nghiên cứu gia cường đất bằng sợi PVC chiều dài 6mm và 12mm, với hàm lượng xi măng 200, 250, 300 (kg/m3). Thông qua thí nghiệm nén đơn, nhận thấy đất có gia cường bằng PVC module E50 tăng, cường độ chịu nén tăng, phá hoại dẻo trong khi đó đất không được gia cường bằng PVC phá hoại dòn.7 : Biến dạng của mẫu đất trộn xi măng với chiều dài sợi 6mm và 12mm theo Kim, Woo Sik·Jung, Du Hwoe·Cho, Il Muk.8 : Quan hệ ứng suất biến dạng của mẫu đất trộn xi măng với chiều dài sợi 6mm và 12mm theo Kim, Woo Sik·Jung, Du Hwoe·Cho, Il Muk.3 Tổng quan về gia cố đất yếu bằng sợi xơ dừa Năm 2005 : Rao, G. và Ujwala nghiên cứu về các đặc tính cường độ của đất cát gia cố sợi xơ dừa và thảm xơ dừa. Dùng thí nghiệm nén đơn nở hông, áp lực nén thay đổi từ 24.5 kPa đến 196 kPa, mẫu cao 200 mm, đường kính 100 mm.
Vật liệu : xơ dừa, thảm xơ dừa, đất cát.1 : Kết quả thí nghiệm của Rao, G.9 : Các loại xơ dừa dùng trong thí nghiệm của Rao, G. (Indian) ứng xử về cường độ của đất vùng nhiệt đới được gia cố sợi xơ dừa với hàm lượng sợi xơ dừa là 1-2%.(Prof and Chairman, Dept. of Civil Engineering, UVCE, Bangalore, Indian), Manoj Krishna, Mamatha nghiên cứu về quá trình đầm nén và ứng xử của loại đất đen vùng nhiệt đới khi xử lý bằng vôi, xơ dừa. [13] Năm 2010 : Bryan Gaw and Sofia Zamora (Worcester Polytechnic Institute, USA), đã nghiên cứu lựa chọn hàm lượng sợi xơ dừa tối ưu để gia cường đất cát pha sét ở Rio de Janerio.10 : Cường độ nén của hỗn hợp đất sét pha cát trộn với sợi xơ dừa với hàm lượng khác nhau theo Bryan Gaw and Sofia Zamora., Sumesh nghiên cứu ảnh hưởng của sợi xơ dừa đến ứng suất và biến dạng của đất hạt mịn với hàm lượng xơ dừa từ 0 -2% trọng lượng đất khô và chiều dài xơ dừa trong nghiên cứu là 15 mm.11 : Quan hệ ứng suất, biến dạng của đất sét nhiễm mặn được gia cường với xơ dừa với các hàm lượng khác nhau theo Bindu Sebastian.
Năm 2011 : Bindu Sebastian (Associate Professor, KMEA Engineering College, Indian) nghiên cứu ảnh hưởng của sợi xơ dừa trên đất sét nhiễm mặn.12 : Quan hệ ứng suất, biến dạng của đất sét nhiễm mặn được gia cường với xơ dừa với các chiều dài sợi khác nhau theo Bindu Sebastian. 12 Năm 2012 : Rakesh Kumar Dutta ((Associate Professor, Department of Civil Engineering Southern Illinois University-Carbondale), Vishwas Nandkishor Khatri and V. Gayathri, nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng hóa chất xử lý sợi xơ dừa trước khi trộn. Thí nghiệm được tiến hành với loại đất sét Ấn Độ.4 Tổng quan các phương pháp đưa sợi vào đất tại hiện trường Hình 1.13 : Thiết bị phun sợi xử lý ổn định mái dốc.
Hỗn hợp sợi có thể được phun lên mái dốc tương tự như phun vữa xi măng với tốc độ phun trung bình khoảng 20m/s. Ngoài ra, sợi cùng với hỗn hợp đất và xi măng có thể được trải ra bằng xe ủi lu, đầm chân cừu.14 : Thiết bị rải sợi gia cố nền đường.15 : Đầm chân cừu trải hỗn hợp sợi. Vấn đề gia cường đất yếu bằng sợi và xi măng bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 1981 và liên tục đến nay với rất nhiều bài báo, công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, chứng tỏ tiềm năng khai thác của đề tài này rất lớn.