CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đất trồng trọt bị ảnh hưởng mặn ước khoảng 380 triệu hecta, chiếm hơn 20% diện tích đất canh tác trên toàn thế giới và tỉ lệ này dự kiến sẽ tăng lên (FAO, 2021). Trong đó, 60 triệu hecta là đất mặn do thủy cấp đưa mặn lên đất mặt, do thiếu nước tưới. Ảnh hưởng của mặn đối với cây trồng là tăng khả năng thẩm thấu của tế bào, nhiễm độc ion, thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến ức chế sinh trưởng và giảm năng suất cây trồng (Yang & Guo, 2018). Lúa (Oryza sativa) là một loại cây lương thực quan trọng nhưng sản lượng gạo toàn cầu đang bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu.
Lúa được coi là loài dễ nhiễm mặn, khả năng chống chịu mặn phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng, bộ phận cây và kiểu gen giống. Vùng trồng lúa bị nhiễm mặn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) ước khoảng 700. Tình hình xâm nhập mặn tại các tỉnh hạ lưu khu vực ĐBSCL trong những năm gần đây diễn biến tương đối phức tạp do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Việc phát triển các đập thủy điện ở thượng nguồn, tích lũy nước vào mùa khô, gây suy giảm lưu lượng dòng chảy làm cho nước sông cạn, nước mặn lấn sâu hơn vào đất liền, gây ra tình trạng xâm nhập mặn tại khu vực hạ lưu (Yuen & cs.
Xâm nhập mặn gây cản trở quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, gây xáo trộn và mất cân bằng trong quá trình hấp thu nước và các chất dinh dưỡng cho cây. Nước mặn phá huỷ cấu trúc đất, gây cho đất bị nén chặt, giảm khả năng phát triển của rễ cây, giảm khả năng thẩm thấu và thoát nước trong đất, gây thiếu khí cho sự phát triển của bộ rễ. Sử dụng nước nhiễm mặn để tưới cho cây trồng ảnh hưởng xấu tới đất, mà còn làm cây bị sốc mặn, gây rụng lá, hoa, trái hàng loạt và có thể dẫn đến chết cây (Huang & cs. Chỉ tiêu đánh giá về khả năng chống chịu mặn của cây lúa hiện nay là các tính trạng có liên quan đến hình thái và sinh lý (Krishnamurthy & cs.
Tính trạng được quan tâm nhiều là mức độ tổn thương trên lá ở giai đoạn mạ, tỉ lệ hạt bất thụ ở giai đoạn trỗ, tỉ số Na+/K+ của thân trong điều kiện môi trường mặn (Chang & cs. Khi bị nhiễm mặn, tất cả các tính trạng trên bị thay đổi về chất chuyển hóa để đáp ứng với lượng muối dư thừa trong cây lúa. Khi bị nhiễm mặn, cây lúa giảm lượng K+ ở cây nhiễm đáng kể, nhưng duy trì K+ ở cây chống chịu. Mặt khác, khí khổng trong tế bào lá lúa đóng vai trò tối ưu hóa sự trao đổi nước và khí, hấp thu CO2 điều khiển quá trình quang hợp cây dưới 1 ảnh hưởng của điều kiện mặn các giống lúa kháng và nhiễm biểu hiện phản ứng khác nhau.
Ảnh hưởng của mặn lên các đặc tính của khí khổng rất phức tạp như ảnh hưởng về phản ứng của khí khổng, độ mở và số lượng (Shabala & cs. Theo Chatterjee và cs. (2020), Cây trồng có thể giảm gần 30% số lượng khí khổng dưới điều kiện mặn. Vì vậy, đề tài “Khảo sát cơ chế sinh lý đáp ứng mặn giai đoạn mạ của bộ lúa NAR-SALMERIT trong điều kiện nhà lưới” được thực hiện nhằm đánh giá một số cơ chế sinh lí của các giống lúa chịu mặn ở điều kiện có xử lí mặn để chọn lọc giống lúa chống chịu mặn.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu tổng quát Tìm ra cơ chế sinh lý đáp ứng chống chịu mặn tốt nhất trên bộ lúa NAR- SALMERIT ở giai đoạn mạ trong điều kiện thanh lọc mặn nhà lưới.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định khả năng sống sót, chiều dài thân và rễ của bộ lúa NAR- SALMERIT điều kiện mặn 0 dS/m, 6 dS/m, 12 dS/m ở giai đoạn mạ trong nhà lưới.
- Xác định nồng độ Na+, K+ của thân của bộ giống lúa NAR-SALMERIT điều kiện mặn 0 dS/m, 6 dS/m, 12 dS/m ở giai đoạn mạ trong nhà lưới. - Xác định mật độ khí khổng lá của bộ giống lúa NAR-SALMERIT điều kiện mặn 0 dS/m, 6 dS/m, 12 dS/m ở giai đoạn mạ trong nhà lưới.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - Bộ giống lúa chống chịu mặn từ viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) NAR-SALTMERIT.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Đánh giá khả năng sống sót của các giống lúa giai đoạn mạ ở mức mặn 0 dS/m, 6 dS/m và 12 dS/m. Theo dõi và đánh giá khả năng sống sót lúa sau mặn 7 ngày, 14 ngày. - Xác định chiều dài thân, rễ của các giống lúa giai đoạn mạ ở mức mặn 0 dS/m, 6 dS/m và 12 dS/m.
- Xác định nồng độ Na+ và K+ ở thân của các giống lúa giai đoạn mạ ở mức mặn 0 dS/m, 6 dS/m và 12 dS/m. - Xác định số lượng khí khổng trên lá của các giống lúa giai đoạn mạ ở mức mặn 0 dS/m, 6 dS/m và 12 dS/m.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Tính khoa học: Đề tài cung cấp thêm thông tin khoa học cho nghiên cứu và giảng dạy về cơ chế sinh lý chống chịu mặn của cây lúa liên quan đến sự hiện diện nồng độ Na+, K+ của thân và mật số khí khổng. - Tính thực tiễn: Đề tài cung cấp nguồn vật liệu cho nghiên cứu chọn tạo thích nghi với vùng đất nhiễm mặn. 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Độ mặn Độ mặn hay độ muối được ký hiệu S‰ (S viết tắt từ chữ salinity – độ mặn) là tổng lượng (tính theo gram) các chất hòa tan chứa trong 1 kg nước.
Độ mặn thường được biểu thị bằng phần nghìn (ppt) hoặc phần trăm (%). Độ mặn là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nhiều khía cạnh của hóa học của nước tự nhiên và các quá trình sinh học bên trong nó, và là một biến trạng thái nhiệt động lực, cùng với nhiệt độ và áp suất, chi phối các đặc tính vật lý như mật độ và khả năng nhiệt của nước. Độ mặn là một yếu tố sinh thái có tầm quan trọng đáng kể, ảnh hưởng đến các loại sinh vật sống trong một vùng nước và ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng. Đo độ mặn là một phép đo quan trọng trong nước biển hoặc tại các cửa sông nơi nước ngọt từ sông hoặc suối hòa lẫn với nước biển mặn vì các sinh vật thủy sinh có khả năng khác nhau để tồn tại và phát triển ở các mức độ mặn khác nhau.
Các sinh vật nước mặn tồn tại ở độ mặn lên tới 40 ppt, tuy nhiên nhiều sinh vật nước ngọt không thể sống ở độ mặn trên 1 ppt. Độ mặn ảnh hưởng đến nồng độ oxy hòa tan trong nước. Độ hòa tan của oxy trong nước giảm khi độ mặn tăng. Độ hòa tan của oxy trong nước biển thấp hơn khoảng 20% so với nước ngọt ở cùng nhiệt độ (Hội các phòng thử nghiệm Việt Nam, 2023).1 Cách đo độ mặn Độ mặn thường được lấy từ phép đo độ dẫn điện (EC).
Theo nghiên cứu Clarence Chavez (2013), thì ta có thể chuyển đổi các yếu tố dựa trên mức độ mặn: 1 ppt = 1000 mg/L = 1000 ppm = k * EC dS/m Ghi chú: EC < 5,0 dS/m thì k = 640 và EC > 5,0 dS/m thì k = 800 Độ mặn (EC) được đo bằng cách truyền một dòng điện giữa hai tấm kim loại hoặc điện cực trong mẫu nước và đo dòng chảy giữa các bản dễ dàng như thế nào. Việc sử dụng các phép đo EC để ước tính hàm lượng ion trong nước biển đã dẫn đến sự phát triển của Thang đo độ mặn thực tế 1978 (PSS-78). 4 Theo Hội các phòng thử nghiệm Việt Nam (2023), hiện nay có rất nhiều thiết bị được thiết kế dành riêng cho việc đo độ mặn, 3 thiết bị chủ yếu là: + Bút đo độ mặn cầm tay: Thao tác đo: Đặt giọt nước lên cảm biến bằng pipet pastuer nhựa đi kèm trong bộ sản phẩm. Chắc chắn rằng mẫu được phủ đầy lên mặt sensor (cảm biến) và không có hình thành bong bóng nào.
Ghi lại đọc độ mặn một khi nó ổn định. + Khúc xạ kế: Hầu hết các loại khúc xạ kế đều yêu cầu nguồn sáng khi đo vì các khúc xạ kế này đo nồng độ muối theo chỉ số khúc xạ. Có hai loại phổ biến là khúc xạ kế cơ học và khúc xạ kế kỹ thuật số: Khúc xạ kế cơ học: Thao tác đo: Nhỏ một vài giọt nước (có chứa muối) lên trên lăng kính ở phía đầu của khúc xạ kế. Nước phải phủ đều và không được có bọt khí để đạt được kết quả chính xác.
Đậy nắp trên lăng kính. Chỉnh độ đi-ốp cho phù hợp với mắt người đọc, và đọc số vạch chuyển màu trên ống ngắm. Khúc xạ kế kỹ thuật số: Thao tác đo: Nhỏ vài giọt mẫu nước cần đo lên lăng kính hoặc buồng chứa mẫu sau đó nhấn phím “Start” trên máy để bắt đầu đo khi đo xong cần vệ sinh lăng kính sạch sẽ sau đó nhấn phím “Zero” để đưa giá trị ban đầu về 0 và tiếp tục đo mẫu khác. Cần qua bước kiểm tra độ chính xác của máy trước khi sử dụng.
+ Máy đo độ mặn kỹ thuật số: Thao tác đo: đơn giản bằng cách nhúng điện cực vào trong nước mặn và nhấn nút bật máy để trên màn hình hiển thị nhiệt độ (°C hoặc °F), độ mặn (ppt) và tỉ trọng.2 Sự hình thành, phân loại và đặc tính của đất mặn Theo Abrol và Bhumbla (1979), cho rằng, quá trình hình thành đất mặn là do 2 nguyên nhân, bao gồm: xâm thực mặn từ nước biển và sự tích tụ muối tự nhiên. Đất mặn hình thành do tích tụ muối tự nhiên thường hình thành trên các vùng bán khô hạn hoặc khô hạn, nơi lượng nước bốc thoát hơi nước cao hơn lượng mưa và hiện tượng tích tụ muối tự nhiên thường xuyên xảy ra. Các muối này chủ yếu là dạng anion Cl-, SO42- cùng với các cation Na+, Ca2+, Mg2+, K+. Chúng có thể hình thành từ quá trình phong hóa đất và khoáng, hay được di chuyển vào đất do nước tưới và mưa.
Quá trình hình thành đất mặn khác là từ các vùng biển cũ trong lục địa, do các mạch nước ngầm nhiễm mặn nên muối được bốc lên theo các mao dẫn lên tầng đất mặt. Bên cạnh quá trình tự nhiên, thì 5 muối cũng có thể tích tụ do quá trình tưới không hợp lý, nguồn nước tưới bị nhiễm mặn và không tiêu nước tốt. Đất mặn khá phổ biến ở vùng cận sa mạc và sa mạc.