CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. Tính cấp thiết của đề tài Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ lên chất lượng sản phẩm là không mấy xa lạ trong lĩnh vực cơ khí, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này mà dễ dàng nhận thấy nhất đó là những kiến thức cơ khí như công nghệ chế tạo máy mà chúng ta đang được học tập, lĩnh hội ngày nay cũng là những công trình nghiên cứu thử nghiệm hàng chục, hàng trăm lần đầy vất vả của những người đi trước và cơ khí có lẽ còn rất nhiều khía cạnh để cho thế hệ trẻ chúng ta tiếp tục khai thác, nghiên cứu để cống hiến những tri thức có giá trị cho thế hệ sau này. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng gia công như hệ thống công nghệ, các yếu tố ngoại cảnh, vật liệu, tưới nguội có lẽ là một đề tài không dễ dàng gì kết thúc khi công nghệ ngày càng có sự thay đổi đáng kể về cả dao , máy móc, và vật liệu gia công cho nên đây là một đề tài có lẽ còn tốn rất nhiều công sức, giấy mực để nghiên cứu về nó. Nói đến chất lượng gia công không thể không đề cập đến độ bóng bề mặt mặt chi tiết và độ nhám là chỉ tiêu để đánh giá điều này.
Đến thời điểm hiện tại đã có khá nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng các phương pháp cắt gọt, thông số cắt gọt, hệ thống công nghệ … lên độ nhám bề mặt trong quá trình gia công trên máy vạn năng cũng như máy CNC. Tuy nhiên việc nghiên cứu ảnh hưởng của cán dao giảm chấn (một công nghệ mới trong gia công cắt gọt) đến độ bóng bề mặt chi tiết thì chưa có công trình nào nghiên cứu về nó, do công nghệ này chưa được phổ biến ở Việt Nam, do vậy việc khảo sát nó là rất cần thiết vì độ bóng bề mặt chi tiết cơ khí ngày càng đòi hỏi khắc khe nên việc sử dụng công nghệ giảm chấn trong tương lai là điều chắc chắn. Với gia công tiện lỗ trong thì để đạt độ bóng cao rất khó vì khi lỗ càng sâu thì cán dao tiện phải thay đổi, khi cán dao được gá dài thì độ cứng vững cũng từ đó giảm 1 do an theo và từ đó độ rung động cũng sinh ra càng nhiều và ảnh hưởng trực tiếp đến độ bóng, nhám bề mặt gia công. Xuất phát từ nhu cầu như vậy người nghiên cứu chọn đề tài : “ Nghiên cứu ảnh hưởng của cán dao giảm chấn lên độ bóng bề mặt chi tiết tiện lỗ ” 1.
Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố. Nhìn chung đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của yếu tố công nghệ đến chất lượng chi tiết mà cụ thể ở đây trong đề tài mà tôi đang thực hiện đó là ảnh hưởng của dao đến độ bóng bề mặt như: Đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ cắt đến độ nhám bề mặt khi gia công trên máy phay CNC” của Trương Thị Ngọc Như – Đại Học Đà Nẵng Nghiên cứu xác định chế độ cắt cho máy phay CNC của viện cơ khí – Đại học bách khoa Hà Nội Bài báo: “Sự ảnh hưởng của bán kính dao đến chất lượng bề mặt gia công trên máy tiện CNC” của thạc sỹ Phạm Văn Bổng – ĐH Công Nghiệp Hà Nội … Ngoài những đề tài nghiên cứu như vậy thì hầu hết các thử nghiệm với dao lên chất lượng bề mặt đều đã được thực hiện bởi các hãng dao tên tuổi trên thế giới như Mitsubishi, Kyocera, Tungaloy,Walter…những thử nghiệm này hầu như được thực hiện trên các loại vật liệu tiêu chuẩn và trong điều kiện gia công khá hoàn hảo cho nên những kết quả nhận được khá lý tưởng và tất nhiên những nghiên cứu này cũng phục vụ cho mục đích thương mại của họ và các thông số đó ta dễ dàng bắt gặp trong các catologue của nhà sản xuất, trong các hội chợ thương mại biểu diễn công nghệ của họ. Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào về ảnh hưởng của cán dao giảm chấn lên độ bóng bề mặt chi tiết tiện lỗ được công bố. Mục đích của đề tài.
- Tiếp cận công nghệ mới của cán dao giảm chấn. 2 do an - Nghiên cứu ảnh hưởng của dao giảm chấn lên độ bóng bề mặt chi tiết trên một số vật liệu phổ biến tại Việt Nam, và so sánh với cán dao bình thường 1. Nhiệm vụ của đề tài và giới hạn đề tài. Nhiệm vụ đề tài Xuất phát từ tên đề tài và mục đích nêu trên thì hướng nghiên cứu bao gồm các nhiệm vụ sau: - Hệ thống lý thuyết về cắt gọt kim loại có liên quan, chất lượng bề mặt gia công và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng bề mặt gia công - Lý thuyết về sự rung động trong gia công bao gồm nguyên nhân gây ra sự rung động, rung động ảnh hưởng đến chất lượng gia công như thế nào và các giải pháp được đề xuất để giảm rung động - Lập quy trình thí nghiệm - Thí nghiệm : + Chuẩn bị phôi liệu đã gia công thô,2 loại cán dao (cán thường và cán giảm chấn) và mảnh insert cho mỗi cán dao.
+ Chuẩn bị máy móc, dao cụ và cắt thử để kiểm định hệ thống công nghệ có ổn không, dao đã gá tốt chưa ? + Tiến hành thí nghiệm cắt thử trên 3 loại vật liệu khác nhau cho 2 loại cán dao khác nhau (cán dao thường và cán dao giảm chấn) - Thu thập số liệu - Xử lý số liệu, lập biểu đồ và phân tích đánh giá kết quả 1. Giới hạn đề tài Do còn nhiều hạn chế về thời gian cũng như trang thiết bị nên phạm vi nghiên cứu như sau : 3 do an - Mẫu được cắt thử trên máy EMCO MAXXTURN-65 tại trung tâm công nghệ cao trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.1 : Máy tiện CNC 6 trục MAXXTURN 65 - Thí nghiệm tiến hành trên 2 loại cán dao khác nhau : cán thường và giảm chấn để có sự so sánh. - Mảnh insert được sử dụng : TCMT 09 02 04-PF Hình 1.2 : Mảnh hợp kim được sử dụng làm thí nghiệm 4 do an - Sử dụng 3 loại vật liệu để tiến hành thí nghiệm : Thép C45, gang xám và nhôm 6061 - Tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng các thông số cắt gọt (f, Vc , ap) đến độ bóng bề mặt chi tiết trên 2 cán dao 1. Phương pháp nghiên cứu.
- Tập hợp tất cả các cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài : lý thuyết cắt gọt, thông tin về dao giảm chấn, tất cả các kết quả thí nghiệm của hãng sanvik về cán dao giảm chấn. - Lập quy trình thí nghiệm - Thu thập, xử lý số liệu thực nghiệm lập biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa các thông số - Phân tích và xử lý số liệu thực nghiệm để đưa ra kết luận 5 do an CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT CẮT GỌT KIM LOẠI 2. Giới thiệu chung Hiện nay có rất nhiều phương pháp để gia công kim loại: Đúc, rèn, cán, hàn .song các phương pháp này cơ bản là tạo phôi hoặc các sản phẩm thô sơ, thường độ chính xác và độ bóng không cao. Để nâng cao độ bóng và độ chính xác của các chi tiết theo yêu cầu kỹ thuật thì phải tiến hành gia công bằng cắt gọt kim loại.
Gia công kim loại bằng cắt gọt (gia công cơ có phoi) tức là bóc đi lớp “kim loại thừa” để tạo nên hình dáng chi tiết phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của chi tiết. Các phương pháp cắt gọt kim loại cơ bản: tiện, phay, bào, khoan, khoét, doa, chuốt, mài Hệ thống thiết bị dùng để hoàn thành nhiệm vụ cắt gọt được gọi là hệ thống công nghệ, bao gồm: Máy –Đồ gá – Dao – Chi tiết.1 : Hệ thống công nghệ - Máy có nhiệm vụ cung cấp năng lượng cần thiết cho quá trình cắt gọt. 6 do an - Đồ gá có nhiệm vụ xác định và giữ vị trí tương quan chính xác giữa dao, máy và chi tiết gia công trong suốt quá trình gia công chi tiết. - Dao có nhiệm vụ trực tiếp cắt bỏ lớp “kim loại thừa” ra khỏi chi tiết nhờ năng lượng của máy cung cấp thông qua các chuyển động tương đối.
- Chi tiết gia công là đối tượng của quá trình cắt gọt. Mọi kết quả của quá trình cắt đều được phản ảnh lên chi tiết gia công. Các chuyển động cơ bản khi cắt gọt Là những chuyển động tương đối để hình thành bề mặt gia công gọi là chuyển động cắt gọt, có 2 loại chuyển động - Chuyển động cắt chính : Là chuyển động cơ bản để tạo ra phoi cắt, chuyển động tiêu hao năng lượng cắt lớn nhất - Chuyển động chạy dao: Là chuyển động cần thiết để tiếp tục tạo ra phoi cắt. Chuyển động chạy dao có thể tịnh tiến, nhưng cũng có thể quay.
- Chuyển động phụ: Bao gồm các chuyển động như đưa dao vào, lùi dao ra, chạy dao về cắt lần hai. Với đề tài này ta chỉ quan tâm đến quá trình tiện: - Khi tiện chuyển động cắt chính là chuyển động quay tròn của chi tiết, chuyển động chạy dao là chuyển động tịnh tiến của dao. 7 do an Chuyển động Chuyển động cắt chính chạy dao Hình 2.2 : Chuyển động cơ bản khi tiện Chuyển động cắt chính và vận tốc cắt Để đặc trưng cho chuyển động chính, ta sử dụng hai đại lượng: - Vận tốc cắt Vc (tại một điểm) hay còn gọi tốc độ cắt: Là lượng dịch chuyển tương đối giữa lưỡi cắt và chi tiết gia công trong một đơn vị thời gian. - Số vòng quay n (hoặc số hành trình kép) trong đơn vị thời gian.
Ta có công thức mối liên hệ giữa Vc và n như sau: Trong đó D : Đường kính chi tiết gia công (mm). n : số vòng quay của chi tiết gia công trong một phút (vòng/phút). Chuyển động chạy dao và lượng chạy dao Để đặc trưng cho chuyển động chạy dao, ta sử dụng lượng chạy dao. Lượng chạy dao có thể là lượng chạy dao vòng, lượng chạy dao phút … Chuyển động phụ và chiều sâu cắt 8 do an Chiều sâu cắt t (mm) là khoảng cách giữa bề mặt đã gia công và bề mặt chưa gia công, hoặc là chiều sâu lớp kim loại cắt đi sau một lần cắt đo theo phương thẳng góc với bề mặt đã gia công.
Ví dụ khi tiện chiều sâu cắt được tính theo công thức: D : Đường kính chi tiết trước khi gia công (mm). d: Đường kính chi tiết sau khi gia công (mm ).