Chương I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHIỆT MÀI 1. Vị trí của mài trong sản xuất cơ khí và cuộc sống. Mài là phương pháp gia công cắt gọt tốc độ cao bằng một số lượng lớn các lưỡi cắt của hạt mài. Các hạt mài được liên kết trong đá mài bằng các chất kết dính.
Lỗ khí là thành phần rất quan trọng để tạo khả năng cắt gọt của đá mài. Với tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật, yêu cầu về độ chính xác của chi tiết máy ngày càng cao, mài là một trong những phương pháp gia công tinh có hiệu quả cao và thoả mãn các yêu cầu đó. Có thể nói, nếu không có phương pháp mài thì khó có thể chế tạo được các chi tiết có độ chính xác cao. Tầm qua trọng của mài được thể hiện qua các yếu tố sau: - Trong gia công cơ khí, mài chiếm từ 20-25% giá thành chế tạo các chi tiết có nguyên công mài hay có liên quan đến mài.
- Sẽ không có xã hội văn minh nếu không có phương pháp mài. Nhìn chung các sản phẩm cao cấp trong cuộc sống của xã hội văn minh đều phải qua mài hoặc có liên quan đến quá trình mài. Quá trình mài thực chất được thực hiện bởi máy mài và đá mài[1]. Ngày P P nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, có nhiều loại máy mài hiện đại và vật liệu đá mài mới ra đời với nhiều tính năng, công dụng khác nhau, độ chính xác gia công ngày càng được nâng cao.
Máy mài thường được chế tạo theo các loại: máy mài tròn ngoài, máy mài trong trong, máy mài mặt phẳng, máy mài vô tâm,… Một trong những đặc điểm nội bật của máy mài so với các loại máy công cụ khác là chúng có khả năng thực hiện được những lớp cắt rất nhỏ (vài µm) và có khả năng điều chỉnh máy với lượng dịch chuyển rất nhỏ. 8 ChÊt dÝnh kÕt H¹t mµi Lç Hình 1-1 Đá mài và cấu trúc đá mài 9 Hình 1-2 Một số dạng hạt mài 10 Đá mài được chế tạo với nhiều chủng loại rất phong phú để có thể gia công hầu hết tất cả các bề mặt chi tiết gia công: đá mài tròn ngoài, đá mài tròn trong, đá mài mặt phẳng, đá mài ren, đá mài răng, đá mài rãnh,.Đá mài (Hình 1-1) được đặc trưng bởi các yếu tố: dạng hạt mài, kích thước hạt mài, U U độ cứng của đá, cấu trúc của đá, chất kết dính và các mảng để nhận dạng đá mài. Các loại vật liệu sử dụng để chế tạo đá mài như: Kim cương tự nhiên và nhân tạo, CBN (Cubic Nitride Boron), Ôxyt nhôm (Al2 O 3 ), Carbide Silic R R R R (SiC), Ôxyt Silic (SiO2),. Các loại vật liệu được sử dụng làm chất kết dính như: kim loại (Metal), thuỷ tinh hoá (Vitrified), nhựa tổng hợp (Resin),…Đá mài còn được chế tạo theo các phương pháp khác nhau nhằm tạo ra các đặc tính khác nhau của chúng, một trong các đặc điểm được quan tâm nhiều đó là tỷ lệ lỗ khí của đá mài sau khi chế tạo.
Hình 1-3 mô phỏng độ cứng của các loại vật liệu hạt mài dùng chế tạo đá mài. 9000 VËt liÖu ®¸ mµi §é cøng Knoop, kg/mm2 8000 7000 6000 VËt liÖu dông cô c¾t kh¸c 5000 4000 3000 2000 1000 0 Carbide Silic Nitride Silic Oxyt nh«m Kim cu¬ng Oxyt Silic Silic ®¬n Zirconia ThÐp t«i tinh thÓ CBN Hình 1-3 Độ cứng của các loại vật liệu mài So với phương pháp gia công cắt gọt bằng các dụng cụ cắt có lưỡi cắt xác 11 định, mài có một số đặc điểm nổi bật: - Đá mài là dụng cụ cắt mà quá trình cắt gọt được thực hiện chủ yếu nhờ các hạt mài trên bề mặt đá. Trong cùng một đơn vị thời gian có rất nhiều lưỡi cắt đồng thời tham gia cắt gọt. Các hạt mài (Hình 1-2) có hình dáng khác nhau và U U rất phức tạp, sự phân bố các hạt mài trên đá mài là ngẫu nhiên nên chúng có các thông số hình học trên bề mặt đá càng phức tạp hơn.
Thông thường các góc trước γ luôn âm, các góc sau nhỏ, bề mặt lưỡi cắt tiếp xúc với bề mặt gia công khi cắt rất lớn. Cơ chế tự mài sắc của đá trong quá trình đang gia công thêm một lần nữa tạo nên sự phức tạp của thông số hình học các hạt. Thông số hình học thay đổi so với các hạt mài với nhau đồng thời các hạt mài đó cũng thay đổi theo thời gian (mòn đá). - Tốc độ cắt khi mài rất cao, thường Vd =30÷35m/s mài tốc độ cao thì R R Vd ≥50m/s.
Hiện nay ở các nước phát triển như Đức, Nhật Bản đã mài với R R vận tốc lên tới 120m/s và đang tìm cách để nâng vận tốc khi mài lên đến 300m/s. Tiết diện phoi mài rất bé, chiều sâu cắt nhỏ. - Dụng cụ mài có lưỡi cắt không liên tục, các hạt mài nằm tách biệt trên đá mài, do đó khi cắt sẽ tạo nên các phoi cắt riêng biệt. Quá trình cắt được thực hiện bằng quá trình tạo phoi trên bề mặt chi tiết gia công như các quá trình gia công khác nhưng ở mức độ nhỏ hơn.
- Nhiệt độ trong vùng gia công khi mài rất cao, khoảng từ 1000÷15000C.P P - Các hạt mài có độ cứng cao, giòn, độ bền nhiệt cao nên có khả năng gia công các loại vật liệu có độ bền cao đặc biệt là các loại vật liệu đã qua nhiệt luyện. 12 - Trong quá trình gia công, đá mài có khả năng tự làm sắc theo các cơ chế khác nhau (gãy cầu liên kết, mòn hạt mài do ma sát và vỡ hạt mài)[3] P Hình 1-4. Máy mài phẳng Mài là phương pháp chủ yếu sử dụng trong các nguyên công tinh lần cuối, là các nguyên công quyết định cuối cùng đến độ chính xác và chất lượng bề mặt chi tiết gia công. Khối lượng sản phẩm mài chiếm 30% trong ngành chế tạo máy, độ chính xác gia công có thể đạt cấp chính xác 6÷7 (0,002÷0,003mm), độ nhám bề mặt có thể đạt đến cấp 10 (Ra 0,16µm).
Trường hợp mài siêu tinh có thể đạt độ chính xác cấp 3, độ nhám có thể đạt tới cấp 12 (Ra 0,04µm). So với phương pháp Tiện và một số phương pháp gia công khác, phương pháp mài có nhiều ưu điểm nổi bật: Chất lượng bề mặt chi tiết tốt, quá trình công nghệ dễ thực hiện, có thể thực hiện được các lớp cắt có chiều sâu cắt nhỏ (tmin =3÷5µm), giảm kinh phí chế tạo dụng cụ cắt, các ảnh hưởng đến lớp R R 13 bề mặt chi tiết có thể kiểm soát được. Ngoài ra một đặt trưng nữa là quá trình mài có thể gia công được các chi tiết đã qua nhiệt luyện. Phương pháp mài có thể thực hiện gia công được hầu hết tất cả các dạng bề mặt chi tiết khác nhau: bề mặt trụ trong, trụ ngoài, mặt phẳng, then, ren, răng và các dạng bề mặt định hình khác.
Ngày nay, kết hợp với máy mài CNC 5 trục và các công nghệ chế tạo đá tiên tiến (Liên kết kim loại hay bằng phương pháp mạ điện) thì khả năng công nghệ của phương pháp mài càng được mở rộng. có khả năng gia công được các bề mặt phức tạp với độ chính xác rất cao. So sánh quá trình tạo phoi khi mài và tiện Khi cắt, quá trình tạo phoi phụ thuộc vào các yếu tố: vật liệu dụng cụ cắt, vật liệu chi tiết gia công, thông số hình học dụng cụ cắt, chế độ cắt, điều kiện thoát phoi, dung dịch trơn nguội và phương pháp tưới nguội. Quá trình tạo phoi khi mài rất phức tạp do tính chất chuyển động của đá mài so với chi tiết gia công, do sự phức tạp của thông số hình học các hạt mài và do sự phân bố 14 phức tạp của số lượng lớn hạt mài trên bề mặt đá.
Một số loại phoi mài Hình 1-6 và Hình 1-7 giới thiệu một số loại phoi mài khi thực hiện với chiều sâu cắt t từ 2µm đến 100µm[5]. Mô phỏng phoi mài 15 1. Các dạng hư hỏng thường gặp trong khi mài. Trong quá trình gia công cơ, muốn đảm bảo độ chính xác về kích thước chi tiết và chất lượng bề mặt chi tiết gia công cao, thì đòi hỏi phải xử lý rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình công nghệ trong quá trình gia công và cả sau khi gia công.
Mài là một phương pháp gia công đòi hỏi cao về độ chính xác và chất lượng lớp bề mặt, do đó cần phải xem xét, dự đoán và đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm hạn chế các ảnh hưởng đó. Một trong các yếu tố gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng bề mặt chi tiết gia công là các yếu tố của hệ thống công nghệ: Máy - Đá mài - Đồ gá và chi tiết gia công. Với đặc thù của kết cấu đá mài, hai yếu tố gây khó khăn cho việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng là lực mài và nhiệt mài. Đây cũng là các yếu tố có tính quyết định đến chất lượng của chi tiết gia công.
Do tính phức tạp về kết cấu các hạt mài và sự phân bố của chúng trên bề mặt đá (hầu hết các hạt mài đều có góc trước âm: γ<0 - Hình 1-3) nên quá trình cắt khó thực hiện, ma sát lớn. Mặt khác, các hạt mài phân bố trên bề mặt đá không theo quy luật nhất định, mật độ phân bố hạt mài trên một đơn vị diện tích bề mặt đá lớn nên số lượng hạt mài cùng tham gia cắt gọt trong một đơn vị thời gian rất lớn. Sự phân bố phức tạp của chúng đã cản trở việc sử dụng các loại dung dịch trơn nguội với tác dụng giảm nhiệt khi gia công và khó khăn cho việc xác định các thông số của quá trình mài. Trong lúc đó đá mài lại có khả năng dẫn nhiệt kém nên hầu hết nhiệt mài được truyền vào chi tiết gia công.
Các dạng hư hỏng xảy ra khi cắt thường chịu ảnh hưởng của sự biến dạng hệ thống công nghệ và do nhiệt mài. Biến dạng của hệ thống công nghệ liên 16 quan đến lực mài. Ở đây, lực cắt khi mài thường không đáng kể do quá trình cắt khi mài chỉ thực hiện với lớp chiều sâu của lớp cắt nhỏ. Sự biến dạng của hệ thống công nghệ ngoài việc liên quan đến độ lớn của lực cắt còn phụ thuộc vào phương pháp thực hiện quá trình cắt (mài thuận, mài nghịch).
Tuy nhiên, quá trình mài khác với phay là lực mài hầu như không có tác dụng trong việc tăng hay giảm lực kẹp. Do lực mài khi cắt rất nhỏ nên sự ảnh hưởng của chúng đến các dạng hư hỏng do mài là rất ít.