10 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ôtô là một thành phần của tổ hợp “Con người - Ôtô - Đường - Môi trường”. Trong quá trình ôtô chuyển động các tác động từ bên ngoài của đường xá, môi trường, các điều kiện chủ quan của con người, chất lượng xe và các hệ thống bảo vệ có ảnh hưởng quyết định đến an toàn giao thông trên đường. Trước tình hình tai nạn giao thông ngày càng gia tăng, vấn đề an toàn cho người khi va chạm đang rất được quan tâm nghiên cứu để nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại về người khi xảy ra tai nạn. Tình hình an toàn giao thông tại Việt Nam trong những năm qua Trong những năm gần đây tình hình an toàn giao thông có những diễn biến phức tạp, tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông xảy ra nghiêm trọng nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội (năm 2010 tăng khoảng hơn 3 triệu phương tiện cả xe máy và ô tô).
Từ năm 2006 trở lại đây do số lượng phương tiện giao thông tăng rất lớn cùng với một số nguyên nhân khác nên tai nạn giao thông tăng đột biến gây ra những tổn thất lớn về người và tài sản. Theo những thống kê của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia về tình hình tai nạn giao thông đường bộ trong những năm từ 2006 đến 2010 cho thấy [5]: Bảng 1. Tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam từ năm 2006 đến 2010 Số vụ tai nạn giao Năm Số người chết Bị thương thông đường bộ 2006 14318 12190 10930 2007 13111 11836 9915 2008 12163 11318 7885 11 2009 11798 11091 7654 2010 13713 11060 10306 Qua các thống kê trên có thể thấy số vụ tai nạn giao thông cũng như số người chết và bị thương hàng năm đang có xu hướng giảm dần, nhưng đặc biệt trong năm 2010 số vụ tai nạn giao thông lại có xu hướng tăng lên và thường xảy ra các vụ tai nạn giao thông rất nghiêm trọng do va chạm của các xe ôtô gây ra những thiệt hại rất lớn về người và phương tiện. Cũng theo thống kê của Cục cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt cho thấy số vụ va chạm giữa hai xe chiếm một tỷ lệ như sau [5]: Bảng 1.
Tỷ lệ % số vụ tai nạn giữa hai xe Số vụ tai nạn Số vụ va Số vụ tai nạn giao Năm được phân chạm giữa hai Tỷ lệ % thông đường bộ tích xe 2006 14318 10266 914 8,9 2007 13111 8942 841 9,4 2008 12163 7796 709 9,1 2009 11798 7857 746 9,5 2010 13713 9229 904 9,8 Qua phân tích các số liệu về va chạm giữa hai xe trong năm 2006 có thể phân loại các dạng va chạm cụ thể như sau [5]: - Va chạm trực diện: 497/914 vụ chiếm 54,4% - Va chạm đuôi xe: 72/914 vụ chiếm 7,9% - Va chạm bên: 285/914 vụ chiếm 31,2% - Nóc và gầm xe: 24/914 vụ chiếm 2,6% - Va chạm khác: 36/914 vụ chiếm 3,9% 12 Hình 1. Tai nạn do va chạm trực diện Theo các số liệu của một số nước như Viện nghiên cứu an toàn giao thông (Insurance Institute for Highway Safety – IIHS Mỹ), Cục quản lý phương tiện giao thông liên bang (Federal Department of Motor Vehicles – Đức) v.v… trên cơ sở phân tích các tai nạn thực cho thấy các vùng phân bố va chạm trên xe như sau [9]: Bảng 1. Tỷ lệ % các dạng va chạm ở một số nước Đức Dạng va chạm Mỹ (1998) Anh(2000) Tỷ lệ % (1995) Va chạm trực diện 52,4% 56,7% 67,1% 60,3% Va chạm đuôi xe 3,4% 9,6% 5,2% 4,9% Va chạm bên 28,7% 24,2% 21,4% 18,5% Nóc và gầm xe 3,7% 2,4% 1,5% 6,8% Va chạm khác 11,8% 7,1% 4,8% 9,5% Tổng số 100% 100% 100% 100% 13 80,00% Va ch¹m trùc diÖn 70,00% Va ch¹m ®u«i xe Va ch¹m bªn 60,00% Nãc vµ gÇm xe Va ch¹m kh¸c 50,00% 40,00% 30,00% 20,00% 10,00% 0,00% Mü(1998) §øc(1995) Anh(2000) NhËt(2002) ViÖt Nam(2006) Hình 1. Biều đồ tỷ lệ % phân bố va chạm của Việt Nam và một số nước khác Qua các thống kê về va chạm tại Việt Nam và một số nước công nghiệp phát triển ta thấy có khoảng 50% đến 60% số vụ va chạm ở khu vực đầu xe.
Do đó va chạm trực diện rõ ràng là trường hợp xảy ra nhiều nhất và nguy hiểm nhất rất cần được quan tâm nghiên cứu. Hiện nay, tại Việt Nam tình hình tai nạn giao thông đã trở thành một vấn đề bức xúc được toàn xã hội quan tâm, có rất nhiều nguyên nhân của tình trạng này nhưng nổi lên một số nguyên nhân chủ yếu sau : - Chưa có chiến lược phát triển giao thông đường bộ nên sự phối hợp của các Bộ, ngành về quản lý nhập khẩu, sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy thiếu đồng bộ dẫn đến số lượng phương tiện giao thông tăng quá nhanh. Một số lượng khá lớn xe ô tô có thời hạn sử dụng kéo dài quá qui định vẫn đang được lưu hành. 14 - Kết cấu hạ tầng giao thông còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu giao thông.
Một số tuyến đường đã được nâng cấp mở rộng, đường tốt, xe chạy được tốc độ cao, nhưng tổ chức giao thông chưa hợp lý, chủ yếu là giao thông hỗn hợp, có nhiều giao cắt đồng mức gây xung đột. Tại các đô thị tình trạng ách tắc thường xảy ra ở các nút giao thông trọng điểm. Ý thức chấp hành luật giao thông và khả năng điều khiển phương tiện của người tham gia giao thông chưa cao. - Công tác kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông cơ chế hoạt động còn nhiều bất cập nên có ảnh hưởng đến chất lượng kiểm định phương tiện.
Mặt khác, ngay cả với những loại xe được sản xuất và lắp ráp tại Việt Nam cũng bộc lộ một số nhược điểm trong quá trình sử dụng về khả năng điều khiển, chống ồn rung, độ êm dịu chuyển động v.v…đặc biệt là độ bền của khung vỏ xe và khả năng hoạt động của các thiết bị đảm bảo an toàn cho người khi va chạm. Ngoài các nguyên nhân trên, có thể thấy rằng tai nạn giao thông ô tô là tổng hợp của các yếu tố: môi trường bên ngoài, người lái, chất lượng kỹ thuật ôtô. Tại Việt Nam qua các thống kê theo tỷ lệ % cho thấy [5]: - Do người lái : 74 78% - Chất lượng kỹ thuật ôtô : 8 14% - Môi trường bên ngoài (đường xá, thời tiết) : 12 16% Trong các yếu tố đã nêu trên thì yếu tố người lái là yếu tố lớn nhất, yếu tố môi trường chủ yếu phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của từng quốc gia. Khi điều kiện hạ tầng cơ sở tốt, yếu tố này có tác dụng hai mặt: cho phép nâng cao chất lượng vận tải nhưng lại gia tăng tai nạn giao thông.
Yếu tố chất lượng kỹ thuật ô tô là yếu tố chiếm tỷ lệ nhỏ nhất, song lại là yếu tố rất cần sự trợ giúp của các nhà thiết kế, chế tạo ô tô và nó là yếu tố cần thiết khi điều kiện về môi trường được cải thiện. Trong yếu tố chất lượng kỹ thuật ô tô có 15 phần khách quan và phần chủ quan. Nhân tố chủ quan là chính do người điều khiển phương tiện, người bảo dưỡng và kiểm tra. Nhân tố khách quan là các nhân tố kỹ thuật liên quan đến an toàn giao thông như hư hỏng của các hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ truyền lực v.v…Tóm lại nếu nghiên cứu tai nạn giao thông theo quan điểm của hệ thống “Con người – Ô tô – Đường – Môi trường” có thể phân tích nguy cơ tai nạn theo thời gian như trong hình 1.3 để từ đó xác định các giải pháp cần thiết nhằm giảm tối đa số vụ tai nạn giao thông.
Hư hỏng phương tiện/Thiệt hại về người Các biện pháp an toàn - Dây an toàn - Túi khí - Bố trí ghế ngồi hợp lý - Tay nắm bảo hiểm Tình trạng tai nạn Khả năng điều khiển - Thời gian phản xạ của lái xe Tình trạng nguy hiểm - Thời gian đáp ứng của xe - Chiều rộng làn đường xe chạy Nguyên nhân - Sai lầm trong phán đoán tình huống - Phương tiện không đảm bảo an toàn Điều kiện ban đầu - Thời tiết - Trình độ người lái - Hạ tầng giao thông - Trọng tải của xe - Mật độ giao thông - Chất lượng phanh lái và hệ thống truyền lực Hình 1. Nguy cơ tai nạn có liên quan đến hệ thống “Con người – Ô tô – Đường – Môi trường” 16 1. Những nghiên cứu về an toàn cho ngƣời trên Thế giới và tại Việt Nam 1. Những công trình nghiên cứu trên Thế giới Số lượng xe đang lưu hành, kể cả xe cũ và mới ngày càng tăng, chính vì vậy nên va chạm của xe và an toàn cho người luôn là một vấn đề thời sự được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm kể cả về lý thuyết và thực nghiệm.
Các nghiên cứu về an toàn cho người khi va chạm được đề cập trên nhiều khía cạnh theo từng mục đích nghiên cứu khác nhau. Những nghiên cứu lý thuyết Hiện nay trên Thế giới trong những công trình nghiên cứu và các hội thảo quốc tế về công nghệ ôtô, vấn đề an toàn bị động của người trên xe khi va chạm được đặc biệt quan tâm tập trung vào những xu hướng sau : * Các tiêu chuẩn an toàn cho người khi va chạm của Châu Âu (EURO – SID) và Mỹ (US – SID) [9]. * Các nghiên cứu động học và động lực học của người khi va chạm trực diện thông qua các yếu tố như gia tốc của đầu, thân người; dịch chuyển của ngực, đầu gối; lực tác động vào cổ, xương chậu v. theo thời gian, ảnh hưởng của những yếu tố này đến tình trạng chấn thương cũng như khả năng giới hạn mà người có thể chịu đựng được với các bài báo của Yoshikatsu Kisanuki, Shigeru Sakuma (Toyota Motor Corporation); Murielle Verver; Jack Van Hoof (TNO Automotive Netherlands); Jesse Ruan, Priya Prusad (Ford Motor Company USA) [12], [13] v.
* Khi xảy ra va chạm các thiết bị an toàn như túi khí và dây an toàn đóng vai trò quyết định đến an toàn và khả năng sống sót của người trên xe. Vì vậy đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về vấn đề này. Trong bài viết của mình, tác giả Ching-Yao Chan đã xây dựng mô hình và phương trình toán học để thiết kế hệ thống túi khí.