Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Huyền dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Quang Năng, bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Luận án thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, phân ngành so sánh đối chiếu với mã số đào tạo 922 20 24.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng ngôn ngữ học tri nhận kể từ thập niên 1980 đã chứng minh ẩn dụ không thuần túy là biện pháp tu từ mang tính trang trí mà là một phương thức tư duy căn bản giúp con người nhận thức các lĩnh vực trừu tượng thông qua trải nghiệm cụ thể. Trong lĩnh vực tài chính, thị trường chứng khoán là một môi trường kinh tế nhiều biến động với các khái niệm phức tạp. Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán ra đời từ năm 2000 và bước vào giai đoạn vận hành chuyên nghiệp khoảng 10 năm trước thời điểm nghiên cứu; do đó, các thuật ngữ và hàm ý ngầm ẩn của các biểu thức ngôn ngữ chứng khoán vẫn còn khó hiểu đối với công chúng tiếp nhận. Hệ thống diễn ngôn chứng khoán tiếng Việt chịu sự ảnh hưởng và kế thừa trực tiếp từ tiếng Anh – ngôn ngữ đã gắn liền với sự phát triển hàng trăm năm của các thị trường tài chính Anh và Mỹ.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định cụ thể: trên thế giới, phần lớn các công trình mới chỉ khảo sát ngữ liệu bản tin tài chính nói chung mà chưa đi sâu vào diễn ngôn thị trường chứng khoán theo ngày của toàn bộ các phiên giao dịch trong trọn vẹn một năm; tại Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và đối chiếu song ngữ Anh - Việt về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn thị trường chứng khoán. Việc thực hiện đề tài nhằm lấp đầy khoảng trống lý luận và thực tiễn nêu trên.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở thống kê, miêu tả và phân tích các biểu thức ẩn dụ ý niệm trong ngữ liệu bản tin thị trường chứng khoán tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt của các biểu thức ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong hai ngôn ngữ, từ đó tìm ra sự tương đồng và dị biệt về cơ sở tri nhận của chúng trong tiếng Anh và tiếng Việt.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác lập bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa các quan điểm lí luận về ẩn dụ nhìn từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu.
- Xác lập các biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán có trong ngữ liệu bản tin thị trường chứng khoán tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó rút ra các loại ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt.
- Miêu tả, phân tích, đối chiếu các biểu thức ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán có trong bản tin thị trường chứng khoán tiếng Anh và tiếng Việt trên cả ba bình diện: định lượng; ngữ nghĩa và tri nhận; giao tiếp.
- Giải thích các đặc điểm tương đồng và dị biệt dựa trên phương diện văn hóa dân tộc, phần nào làm rõ mối liên hệ giữa văn hóa, tư duy và ngôn ngữ.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các biểu thức ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt. Phạm vi ngữ liệu được giới hạn trong các bản tin điện tử hằng ngày phản ánh diễn biến thị trường chứng khoán Mỹ và thị trường chứng khoán Việt Nam trong khung thời gian từ ngày 01/01/2017 đến hết ngày 29/12/2017 (toàn bộ các ngày giao dịch trong năm 2017). Ngữ liệu tiếng Anh gồm 762 bản tin ngắn từ chuyên mục "Stock Market Today" của báo điện tử Investors.com (tổng cộng 355.000 từ trên 254 ngày giao dịch, mỗi ngày thu thập 3 bản tin tương ứng các mốc sáng, trưa, chiều). Ngữ liệu tiếng Việt gồm 219 bản tin tổng hợp cuối ngày từ chuyên mục "Nhịp đập thị trường" của báo điện tử Vietstock.vn (tổng cộng 267.000 từ trên 219 ngày giao dịch). Miền đích định trước là THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, qua đó khảo sát và xác định được 16 miền nguồn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia mạch lạc theo hai bình diện: nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu tại Việt Nam.
Trên thế giới, nghiên cứu về ẩn dụ kinh tế đã có bước chuyển biến từ những năm 1994, 1995 khi nhà kinh tế học McCloskey bác bỏ quan điểm cho rằng diễn ngôn kinh tế chỉ dựa vào mô hình toán học và không có ẩn dụ. McCloskey cùng với Henderson (1982, 1986, 1994) và Charteris-Black (2000, 2004) khẳng định ẩn dụ đóng vai trò then chốt trong việc phản ánh và tư duy các khái niệm kinh tế trừu tượng. Henderson xác định ba vai trò của ẩn dụ trong diễn ngôn kinh tế gồm: trang trí/hỗ trợ giảng dạy, quy tắc tổ chức ngôn ngữ, và công cụ tìm hiểu sâu để xây dựng mô hình dự đoán. Cách phân chia này tương đồng với quan điểm của Goatly (1997) và sự định danh của Skorczynska & Deignan (2006) theo ba chức năng: minh họa (illustrating), sản sinh (generic) và tạo khuôn (modelling).
Xét theo các hướng tiếp cận chuyên sâu, tác giả điểm lại:
- Hướng tiếp cận ngữ nghĩa và tri nhận: Gao (2007) phân loại ẩn dụ trên tạp chí The Economist thành ba miền nguồn CHIẾN TRANH, THỂ THAO và NÔNG NGHIỆP. Cardini (2014) khảo sát 100.000 từ trên The Economist và The International Economy giai đoạn 2008–2012, chỉ ra hơn 40 ẩn dụ ý niệm về khủng hoảng kinh tế với mô hình nền kinh tế như một đồ vật bị phá hủy xuất hiện phổ biến. Oberlechner và cộng sự (2004) phân tích thị trường hối đoái xoay quanh bảy mô hình ẩn dụ (SẠP HÀNG, ĐỘNG CƠ, CỜ BẠC, THỂ THAO, CHIẾN TRANH, CƠ THỂ SỐNG, ĐẠI DƯƠNG), xác lập sơ đồ về khả năng dự đoán và tiêu điểm ẩn dụ (quan sát dự báo so với tham gia chiến đấu). Kovács (2006) hệ thống hóa các ẩn dụ trong diễn ngôn thương mại tiếng Anh, Đức, Hungary gồm CƠ THỂ NGƯỜI, CHIẾN TRANH, THỂ THAO, TRÒ CHƠI, HÔN NHÂN, BIỂU DIỄN.
- Hướng so sánh đối chiếu liên văn hóa: Rojo López & Orts Llopis (2010), Luporini (2013) nghiên cứu diễn ngôn khủng hoảng kinh tế năm 2008 trên báo chí Anh, Tây Ban Nha, Ý; Gao (2008) đối chiếu tiêu đề báo chí kinh tế Anh - Trung và lý giải sự khác biệt qua môi trường tự nhiên, lịch sử. Charteris-Black & Ennis (2001) đối chiếu bản tin tài chính tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha năm 1997, lý giải tần suất cao của ẩn dụ biển trong tiếng Anh bắt nguồn từ truyền thống văn hóa hải đảo. Đặc biệt, Siaw-Fong Chung (2009, 2010, 2011) so sánh ẩn dụ THỊ TRƯỜNG trong tiếng Anh, Trung Quốc, Malay, phân tích mối quan hệ ngữ nghĩa - cú pháp, nghiên cứu mô hình THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ NƯỚC BIỂN và đề xuất các chiến thuật dịch thuật cho các ẩn dụ định hướng, dao động và chiến tranh.
- Hướng xã hội học và ngữ dụng: Koller (2004, 2005) khảo sát mối liên hệ giữa ẩn dụ chiến tranh và yếu tố giới tính độc giả; Cameron & Low (1999) phân tích ẩn dụ ở hai cấp độ lý thuyết và xử lý; Steen (2008, 2011) xây dựng mô hình ba chiều và Lý thuyết ẩn dụ chủ ý (Deliberate Metaphor Theory) với ba chức năng: ngữ nghĩa, tri nhận và giao tiếp. Morris và cộng sự (2007) phân biệt ẩn dụ tác thể (agent) và ẩn dụ đối thể (object) trong bình luận thị trường chứng khoán; William (2009) kiểm chứng ảnh hưởng của khung ẩn dụ đến quyết định đầu tư; O’mara-Shimeck và cộng sự (2004, 2005) chứng minh vai trò đóng khung tư tưởng và định hướng tâm lý của ẩn dụ báo chí tài chính.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận ban đầu được giới thiệu bởi Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Phan Thế Hưng. Các công trình ứng dụng ẩn dụ ý niệm chủ yếu tập trung vào thi ca (Nguyễn Thị Bích Hạnh, Phạm Thị Hương Quỳnh), thành ngữ tục ngữ (Vi Trường Phúc, Trần Bá Tiến), diễn ngôn chính trị (Nguyễn Tiến Dũng). Trong lĩnh vực kinh tế, có các nghiên cứu khái quát của Nguyễn Thụy Phương Lan, Phạm Thị Thanh Thùy, Vương Thị Kim Thanh (khảo sát 300 tiêu đề báo thương mại). Đáng chú ý nhất là luận án tiến sĩ của Hà Thanh Hải phân loại các ẩn dụ cấu trúc trong báo chí kinh tế Anh - Việt thành bốn nhóm miền nguồn: KHÔNG GIAN, MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI, CƠ THỂ SỐNG.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: chưa có công trình nào đi sâu khảo sát một cách bao quát, có hệ thống trên ngữ liệu bản tin thị trường chứng khoán xuất bản theo ngày của trọn vẹn một năm giao dịch; đồng thời chưa có công trình đối chiếu chuyên biệt cấu trúc ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán giữa tiếng Anh và tiếng Việt nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng Thuyết ẩn dụ ý niệm (CMT) được khởi xướng bởi Lakoff & Johnson (1980) và phát triển bởi Kövecses (2000, 2002, 2010). Ẩn dụ ý niệm được định nghĩa là sự hiểu và trải nghiệm một miền ý niệm trừu tượng (miền đích) thông qua một miền ý niệm cụ thể hơn (miền nguồn) dựa trên một hệ thống các tương đồng hay ánh xạ (mappings). Luận án cũng tiếp thu Thuyết nghiệm thân (Embodiment) khẳng định tư duy bắt nguồn từ sự tương tác thể chất của con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
Về cấu trúc ý niệm, luận án áp dụng quan điểm của Trần Văn Cơ về mô hình trường gồm phần Trung tâm (khái niệm) và Ngoại vi (yếu tố văn hóa, ngôn ngữ). Về phân loại, dù Kövecses phân chia ẩn dụ thành ba loại chức năng gồm ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng, luận án lựa chọn giải pháp phân nhóm theo lĩnh vực miền nguồn để bao quát ngữ liệu và thuận tiện cho việc so sánh đối chiếu hai chiều. Về mối quan hệ giữa ẩn dụ và văn hóa, tác giả kết hợp quan điểm của Kövecses về các tác nhân gây biến đổi liên văn hóa (trải nghiệm khác biệt, phong cách tri nhận khác biệt, tính nổi trội, đánh giá giá trị) cùng khung lý thuyết loại hình văn hóa của Trần Ngọc Thêm (văn hóa gốc du mục phương Tây thiên về tư duy phân tích, khách quan, lý tính so với văn hóa gốc nông nghiệp phương Đông thiên về tư duy tổng hợp, biện chứng, cảm tính, gắn bó với môi trường sông nước).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Các phương pháp và thủ pháp cụ thể bao gồm:
- Phương pháp miêu tả của ngôn ngữ học tri nhận nhằm mô tả các mô hình ánh xạ ý niệm.
- Phương pháp đối chiếu hai chiều (coi cả tiếng Anh và tiếng Việt đều là ngữ nguồn và ngữ đích) nhằm tìm ra điểm tương đồng và dị biệt trên ba bình diện: ngữ nghĩa, tri nhận và giao tiếp.
- Phương pháp phân tích ẩn dụ ý niệm theo Quy trình nhận dạng ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) do nhóm Pragglejaz (2007) đề xuất gồm bốn bước: đọc toàn bộ diễn ngôn; xác định các đơn vị từ vựng; đối chiếu nghĩa ngữ cảnh với nghĩa cơ bản cụ thể hơn; xác định tính chất ẩn dụ nếu có sự đối lập nhưng có thể hiểu được qua so sánh.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa - ngôn ngữ nhằm giải thích các dị biệt ngôn ngữ bằng bối cảnh văn hóa xã hội.
- Thủ pháp thống kê, phân loại các "dụ dẫn" (từ ngữ dùng theo nghĩa ẩn dụ - metaphorically used words) và biểu thức ẩn dụ (metaphorical expressions).
Các từ điển đối chiếu được sử dụng làm căn cứ xác định nghĩa gốc và nghĩa mở rộng gồm: Online Etymology Dictionary, Oxford English Dictionary và Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý.
Dưới đây là bảng tổng hợp số liệu ngữ liệu và kết quả thống kê tổng quát được trích xuất từ văn bản luận án:
| Tiêu chí khảo sát |
Khối ngữ liệu tiếng Anh |
Khối ngữ liệu tiếng Việt |
| Nguồn ngữ liệu |
Chuyên mục "Stock Market Today" (Investors.com) |
Chuyên mục "Nhịp đập thị trường" (Vietstock.vn) |
| Thị trường phản ánh |
Thị trường chứng khoán Mỹ |
Thị trường chứng khoán Việt Nam |
| Thời gian thu thập |
01/01/2017 – 29/12/2017 |
01/01/2017 – 29/12/2017 |
| Số ngày giao dịch |
254 ngày |
219 ngày |
| Số lượng bản tin |
762 bản tin (3 bản tin/ngày) |
219 bản tin (1 bản tin/ngày) |
| Tổng số lượt từ |
Khoảng 355.000 từ |
Khoảng 267.000 từ |
| Dung lượng trung bình |
Khoảng 500 từ/bản tin |
Khoảng 1.500 từ/bản tin |
| Số lượng dụ dẫn phát hiện |
540 dụ dẫn |
397 dụ dẫn |
| Tổng số lần xuất hiện của biểu thức ẩn dụ |
31.569 lần |
15.300 lần |
| Tần suất xuất hiện biểu thức ẩn dụ |
88,7 biểu thức / 1.000 từ |
57,2 biểu thức / 1.000 từ |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết và tổng quan tư liệu cho toàn bộ công trình. Tác giả phân tích lịch sử nghiên cứu ẩn dụ ý niệm từ công trình nền tảng của Lakoff & Johnson (1980), các phát triển lý luận của Kövecses, cùng các tranh luận khoa học xoay quanh Thuyết nghiệm thân, Thuyết hòa trộn ý niệm của Fauconnier & Turner, và Thuyết ẩn dụ chủ ý của Steen. Chương này hệ thống hóa các công trình nghiên cứu ẩn dụ trong diễn ngôn kinh tế - tài chính trên thế giới và tại Việt Nam, qua đó xác lập khoảng trống nghiên cứu.
Tác giả xây dựng khung phân tích ba bình diện (ngữ nghĩa, tri nhận, giao tiếp) kết hợp định lượng, đồng thời xác lập quy trình nhận diện từ vựng ẩn dụ theo quy chuẩn MIP của nhóm Pragglejaz. Từ việc khảo sát ngữ liệu, tác giả đã hệ thống hóa 16 miền nguồn tìm được và quy tụ thành bốn nhóm miền nguồn lớn phục vụ cho việc khảo sát chi tiết ở ba chương tiếp theo:
- Nhóm miền nguồn Môi trường sống (gồm môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo).
- Nhóm miền nguồn Hoạt động.
- Nhóm miền nguồn Cơ thể người.
- Nhóm miền nguồn Không gian.
Ngoài ra, tác giả cũng ghi nhận một số miền nguồn khác xuất hiện rải rác như: thực thể dao động, ăn uống, cờ bạc, bầu trời.
Chương 2: Ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán có miền nguồn là môi trường sống trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 2 khảo sát chi tiết các ẩn dụ ý niệm có miền nguồn thuộc môi trường sống của con người, phân tách thành môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo, bao gồm bảy mô hình ẩn dụ ý niệm:
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ BIỂN: Miền nguồn biển phản ánh chuyển động của thị trường thông qua các hiện tượng sóng, thủy triều, dòng chảy và độ sâu. Ngữ liệu tiếng Anh xuất hiện các biểu thức như wave, tide, flow, ebb, ripple, deep water, trong khi tiếng Việt sử dụng các từ ngữ như dạt sóng, con sóng, lướt sóng, dòng tiền chảy, sóng ngầm. Phân tích đối chiếu cho thấy tiếng Anh dùng nhiều từ ngữ mô tả các chuyển động phức tạp của đại dương gắn với truyền thống hàng hải, còn tiếng Việt tập trung vào các từ ngữ gắn với kinh nghiệm sông nước vùng châu thổ.
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ ĐỘNG VẬT: Đây là mô hình ẩn dụ mang tính quy ước cao trong tài chính quốc tế. Bản tin tiếng Anh khai thác triệt để hình tượng bull market (thị trường giá lên) và bear market (thị trường giá xuống) dựa trên đặc tính tấn công của hai loài vật (bò húc sừng lên, gấu tát móng xuống), cùng các loài động vật khác như hawks, doves, stag, sheep. Bản tin tiếng Việt tiếp thu trọn vẹn hai hình tượng bò tót và gấu, đồng thời sử dụng các động từ chỉ hành vi động vật như nuốt trọn, rình mồi, tháo chạy, bầy đàn.
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỰC VẬT: Sự sinh trưởng, phát triển của cổ phiếu và chỉ số được ánh xạ qua vòng đời cây cối. Tiếng Anh xuất hiện các biểu thức như growth, sprout, blossom, root, harvest, prune, wither. Tiếng Việt sử dụng phổ biến các biểu thức tương đương: tăng trưởng, đơm hoa, gặt hái, bám rễ, héo úa, cành nhánh.
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ LỬA: Lửa biểu thị cho nhiệt lượng và cường độ giao dịch. Ngữ liệu tiếng Anh ghi nhận burn, flame, ignite, overheat, fuel, extinguish, trong khi tiếng Việt thể hiện qua các từ bốc hỏa, hạ nhiệt, bùng cháy, thiêu rụi, nguội lạnh.
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỜI TIẾT: Biến động chỉ số được ánh xạ qua các hiện tượng khí tượng. Tiếng Anh sử dụng cloudy, stormy, chilly, sunny, breeze, fog. Tiếng Việt dùng ảm đạm, mây đen u ám, dông bão, ấm dần lên, đón gió.
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG: Cấu trúc kỹ thuật của thị trường được hình dung như một tòa nhà. Tiếng Anh có các biểu thức floor, ceiling, support, resistance, foundation, build, collapse. Tiếng Việt sử dụng các thuật ngữ tương đương như ngưỡng hỗ trợ, mức kháng cự, trụ đỡ, xây nền giá, sụp đổ, trần, sàn.
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CỖ MÁY: Thị trường được tri nhận như một hệ thống cơ khí có động cơ, công cụ điều khiển và quán tính. Tiếng Anh ghi nhận engine, gear, brake, accelerate, tune up, run out of steam. Tiếng Việt phản ánh qua các từ vận hành, mất đà, phanh hãm, trục trặc, cỗ máy in tiền.
Chương 3: Ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán có miền nguồn là hoạt động trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3 tập trung phân tích bốn mô hình ẩn dụ ý niệm lấy miền nguồn từ các hoạt động xã hội của con người:
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH: Thị trường được ý niệm hóa như một lộ trình di chuyển có điểm khởi đầu, chặng đường, chướng ngại vật và đích đến. Ngữ liệu tiếng Anh xuất hiện journey, path, road, roadblock, milestone, detour, track. Bản tin tiếng Việt phản ánh qua chặng đường, lộ trình, đích đến, vượt dốc, gập ghềnh, ngáng đường, quay đầu.
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ SÂN KHẤU: Sàn giao dịch được tri nhận như sàn diễn nghệ thuật. Tiếng Anh sử dụng stage, play, drama, actor, role, spotlight, curtain. Tiếng Việt dùng các biểu thức như sàn diễn, sắm vai chính, kịch bản, hạ màn, vai trò trụ cột, tâm điểm chú ý.
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ THỂ THAO: Sự ganh đua giữa các nhóm cổ phiếu và nhà đầu tư mang đặc tính của các trận thi đấu. Tiếng Anh xuất hiện các thuật ngữ từ bóng chày, điền kinh, quyền anh như rally, marathon, hurdle, sprint, knockout. Tiếng Việt sử dụng các từ ngữ thể thao như cuộc đua, bứt tốc, đuối sức, lấy đà, vượt rào, áp đảo.
- Ẩn dụ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ CHIẾN TRƯỜNG: Đây là một trong những ẩn dụ có tần suất cao nhất trong cả hai ngôn ngữ. Thị trường là nơi diễn ra xung đột vũ trang giữa hai phe mua (bulls) và bán (bears). Bản tin tiếng Anh sử dụng battle, frontline, defend, retreat, casualty, attack, siege. Bản tin tiếng Việt sử dụng hệ thống từ vựng quân sự dày đặc: chiến trường, bên mua chiếm ưu thế, rút quân, phòng thủ kiên cường, đổ máu, giằng co, trận địa.
Chương 4: Ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán có miền nguồn là cơ thể người và không gian trong bản tin tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 4 nghiên cứu hai nhóm miền nguồn mang tính nghiệm thân sâu sắc:
- Nhóm miền nguồn Cơ thể người: Được chia thành hai tiểu nhóm thể hiện trạng thái của thị trường:
- TÌNH TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE SINH LÝ: Thị trường được nhân hóa như một cơ thể sống có thể trạng khỏe mạnh hoặc bệnh tật. Tiếng Anh xuất hiện healthy, bleeding, fever, recover, paralysis, immune, exhaustion. Tiếng Việt thể hiện qua sức khỏe thị trường suy kiệt, phục hồi, hấp hối, bơm máu (dòng tiền), đề kháng, lây nhiễm.
- TÌNH TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE TÂM LÝ: Thể hiện cảm xúc và hành vi tâm lý của các tác nhân thị trường. Tiếng Anh dùng panic, euphoric, depressed, hesitant, confident. Tiếng Việt dùng hoảng loạn, hưng phấn, ủ rũ, bi quan, tâm lý thận trọng.
- Nhóm miền nguồn Không gian (Ẩn dụ định hướng): Luận án làm rõ ba chiều không gian cơ bản:
- Hướng LÊN - XUỐNG: Chiếu ứng theo nguyên lý NHIỀU HƠN LÀ HƯỚNG LÊN (up, climb, surge, skyrocket / tăng, leo dốc, bứt phá) và ÍT HƠN LÀ HƯỚNG XUỐNG (down, drop, plunge, dive / giảm, tụt dốc, rơi tự do, chìm sâu).
- Vị trí CAO - THẤP: Chiếu ứng theo nguyên lý TỐT HƠN LÀ VỊ TRÍ CAO (highs, peak, summit / đỉnh cao, lập đỉnh, vùng giá cao) và KÉM HƠN LÀ VỊ TRÍ THẤP (lows, bottom, trough / đáy, rơi xuống đáy, vùng trũng).
- Hướng RA - VÀO: Chiếu ứng theo nguyên lý NHIỀU HƠN LÀ HƯỚNG VÀO (dòng vốn đổ vào, hút tiền / inflow, inject, pouring) và ÍT HƠN LÀ HƯỚNG RA (dòng vốn rút ra, tháo chạy / outflow, drain, pull out).
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về đề tài ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn thị trường chứng khoán. Công trình bổ sung dữ liệu ngôn ngữ học thực nghiệm đối chiếu Anh - Việt, khẳng định tính đúng đắn và khả năng ứng dụng sâu rộng của Thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff & Johnson và Kövecses vào thể loại diễn ngôn báo chí tài chính. Luận án củng cố mô hình ba bình diện (ngữ nghĩa, tri nhận, giao tiếp) trong phân tích ẩn dụ, chứng minh rằng ẩn dụ ý niệm không chỉ là phương thức cấu tạo thuật ngữ mới (chức năng định danh) mà còn thực hiện chức năng định hình tư duy, đóng khung thông tin và định hướng hành vi của nhà đầu tư. Hơn nữa, việc giải thích các tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ dựa trên mô hình văn hóa gốc du mục và văn hóa gốc nông nghiệp của Trần Ngọc Thêm đã góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa dân tộc.
Về mặt thực tiễn, luận án đem lại các đóng góp cụ thể:
- Đối với độc giả và nhà đầu tư tài chính: Giúp giải mã các tầng nghĩa ngầm ẩn đằng sau các thuật ngữ và biểu thức ẩn dụ trong các bản tin phân tích hằng ngày, từ đó nâng cao năng lực nhận diện thông tin và hạn chế các tác động tâm lý do kỹ thuật đóng khung ngôn từ gây ra.
- Đối với công tác giảng dạy ngôn ngữ: Cung cấp hệ thống tư liệu thực tế và cơ sở tri nhận phục vụ việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành tài chính - ngân hàng và chứng khoán; hỗ trợ người học nắm bắt thuật ngữ thông qua việc liên kết với các miền nguồn quen thuộc.
- Đối với hoạt động báo chí và dịch thuật: Hỗ trợ các biên tập viên, nhà báo và dịch giả trong việc lựa chọn các biểu đạt tương đương, chuyển tải chính xác cả thông tin logic lẫn sắc thái biểu cảm khi biên dịch các bản tin thị trường chứng khoán từ tiếng Anh sang tiếng Việt.
Về mặt giải pháp và kiến nghị, luận án đề xuất việc chuẩn hóa và hệ thống hóa thuật ngữ chứng khoán tiếng Việt có nguồn gốc ẩn dụ; đồng thời kiến nghị các cơ sở đào tạo chuyên ngành ngôn ngữ và kinh tế tích hợp cách tiếp cận ngôn ngữ học tri nhận vào chương trình giảng dạy thuật ngữ chuyên ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án tự xác định các giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Ngữ liệu mới chỉ tập trung khảo sát trên hai chuyên mục bản tin điện tử của hai trang báo mạng ("Stock Market Today" trên Investors.com và "Nhịp đập thị trường" trên Vietstock.vn) trong phạm vi một năm dương lịch duy nhất (2017), chưa bao quát toàn bộ các thể loại diễn ngôn tài chính khác như báo cáo phân tích chuyên sâu, báo cáo thường niên hay diễn đàn trao đổi của giới đầu tư.
- Do phương thức đưa tin khác biệt giữa hai trang web (báo Mỹ phát hành 3 bản tin ngắn/ngày với dung lượng khoảng 500 từ/bản tin; báo Việt Nam phát hành 1 bản tin tổng hợp cuối ngày với dung lượng khoảng 1.500 từ/bản tin), việc quy đổi để tương thích về mặt dung lượng mang tính chất tương đối và có sự chênh lệch về tổng số lượng bản tin khảo sát (762 bản tin tiếng Anh so với 219 bản tin tiếng Việt).
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả đề xuất:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các thể loại diễn ngôn kinh tế - tài chính khác như bình luận chuyên gia, nghị quyết đại hội cổ đông, bản cáo bạch chào bán chứng khoán.
- Khảo sát ngữ liệu trong các giai đoạn biến động đặc thù của chu kỳ kinh tế (giai đoạn thị trường khủng hoảng suy thoái hoặc bùng nổ tăng trưởng nóng) để kiểm chứng sự biến đổi của hệ thống biểu thức ẩn dụ.
- Mở rộng đối chiếu đa ngữ giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ phương Đông khác như tiếng Trung, tiếng Nhật trong việc tri nhận thị trường tài chính.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học ứng dụng và Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu: Công trình là tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp định tính - định lượng, đặc biệt là quy trình nhận diện ẩn dụ MIP của nhóm Pragglejaz và cách thức xử lý khối liệu ngôn ngữ thực tế.
- Giảng viên và sinh viên ngành Tiếng Anh thương mại, Tiếng Anh chuyên ngành tài chính: Phần phân tích đối chiếu hệ thống 16 miền nguồn (nhất là các ẩn dụ BIỂN, ĐỘNG VẬT, CỖ MÁY, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG, CHIẾN TRANH) là tài liệu giảng dạy trực quan về phương thức hình thành thuật ngữ tài chính.
- Phóng viên, biên tập viên báo chí tài chính và dịch giả: Cung cấp danh mục các biểu thức ẩn dụ tương đương giữa hai ngôn ngữ, hỗ trợ việc hành văn chuẩn xác và nâng cao chất lượng dịch thuật bản tin kinh tế.
- Chuyên viên phân tích tài chính và nhà đầu tư cá nhân: Giúp nhận thức rõ bản chất đóng khung của ngôn ngữ truyền thông để có cái nhìn khách quan trước các diễn biến tâm lý thị trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng ngữ liệu và nguồn ngữ liệu cụ thể được khảo sát trong luận án là gì?
Luận án khảo sát toàn bộ các bản tin thị trường chứng khoán hằng ngày trong năm 2017. Ngữ liệu tiếng Anh gồm 762 bản tin từ chuyên mục "Stock Market Today" của báo Investors.com với tổng số 355.000 từ trên 254 ngày giao dịch. Ngữ liệu tiếng Việt gồm 219 bản tin từ chuyên mục "Nhịp đập thị trường" của báo Vietstock.vn với tổng số 267.000 từ trên 219 ngày giao dịch.
2. Vì sao có sự chênh lệch lớn về số lượng bản tin giữa tiếng Anh (762 bản tin) và tiếng Việt (219 bản tin)?
Sự chênh lệch xuất phát từ tần suất và dung lượng đưa tin của hai trang web. Trang báo của Mỹ xuất bản trung bình 8 bản tin ngắn mỗi ngày (dung lượng khoảng 500 từ/bản tin), tác giả chọn lấy 3 bản tin/ngày (sáng, trưa, chiều) để bao quát diễn biến trọn ngày với tổng số từ tương đương. Trang báo của Việt Nam chỉ ra 1 bản tin tổng hợp cuối ngày phản ánh toàn bộ phiên giao dịch với dung lượng trung bình 1.500 từ/bản tin.
3. Tần suất xuất hiện biểu thức ẩn dụ giữa tiếng Anh và tiếng Việt trong ngữ liệu chênh lệch ra sao?
Khảo sát cho thấy mật độ sử dụng ẩn dụ trong bản tin tiếng Anh cao hơn đáng kể so với tiếng Việt. Ngữ liệu tiếng Anh ghi nhận 540 dụ dẫn xuất hiện 31.569 lần, tương ứng với tần suất 88,7 biểu thức / 1.000 từ. Ngữ liệu tiếng Việt ghi nhận 397 dụ dẫn xuất hiện 15.300 lần, tương ứng với tần suất 57,2 biểu thức / 1.000 từ.
4. Tác giả luận án sử dụng quy trình nào để nhận diện các biểu thức ẩn dụ ý niệm từ ngữ liệu?
Tác giả áp dụng Quy trình nhận diện ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) do nhóm Pragglejaz (2007) đề xuất gồm bốn bước: đọc hiểu toàn bộ văn bản; phân xuất các đơn vị từ vựng; đối chiếu nghĩa ngữ cảnh với nghĩa cơ bản cụ thể hơn trong các từ điển chuẩn (Online Etymology Dictionary, OED, Đại từ điển tiếng Việt); và xác định từ vựng có tính ẩn dụ nếu nghĩa ngữ cảnh đối lập nhưng có thể hiểu được khi so sánh với nghĩa cơ bản.
5. Hệ thống các ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán được phân chia thành những nhóm miền nguồn chính nào?
Tác giả xác định 16 miền nguồn và quy về bốn nhóm lớn:
- Nhóm Môi trường sống: Biển, Động vật, Thực vật, Lửa, Thời tiết, Công trình xây dựng, Cỗ máy.
- Nhóm Hoạt động: Cuộc hành trình, Sân khấu, Thể thao, Chiến trường.
- Nhóm Cơ thể người: Tình trạng sức khỏe sinh lý, Tình trạng sức khỏe tâm lý.
- Nhóm Không gian: Hướng Lên - Xuống, Vị trí Cao - Thấp, Hướng Ra - Vào.
Kết luận
Luận án "Ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền là công trình nghiên cứu chuyên sâu, áp dụng Thuyết ẩn dụ ý niệm để giải mã ngôn ngữ tài chính chứng khoán trên ngữ liệu thực nghiệm quy mô lớn của năm 2017. Thông qua việc phân tích và đối chiếu 16 miền nguồn thuộc bốn nhóm lĩnh vực, luận án làm rõ cơ chế ánh xạ ý niệm, tính phổ quát trong tư duy tài chính toàn cầu và các nét dị biệt mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc giữa phương Đông và phương Tây. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cứ liệu quan trọng cho ngôn ngữ học tri nhận và so sánh đối chiếu tại Việt Nam mà còn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành, hoạt động dịch thuật báo chí và việc tiếp nhận thông tin thị trường của các nhà đầu tư.