Nghiên Cứu Ẩn Dụ Ý Niệm Về Thị Trường Chứng Khoán Trong Tiếng Anh Và Tiếng Việt

Khám phá ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt qua luận án tiến sĩ, phân tích sâu sắc và so sánh ngôn ngữ.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

227
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Ẩn Dụ Ý Niệm Thị Trường Chứng Khoán

Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt là một lĩnh vực đầy tiềm năng, kết hợp giữa ngôn ngữ học tri nhận và kinh tế học. Các công trình của Lakoff & Johnson (1980) đã đặt nền móng cho việc ứng dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm vào nhiều lĩnh vực, bao gồm cả kinh tế. Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu như Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, và Phan Thế Hưng đã có những đóng góp quan trọng. Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về ẩn dụ ý niệm thị trường chứng khoán vẫn còn hạn chế. Luận án này tập trung vào việc khám phá và đối chiếu các biểu thức ẩn dụ ý niệm trong bản tin thị trường chứng khoán của cả hai ngôn ngữ, nhằm làm sáng tỏ những tương đồng và khác biệt trong tư duy và diễn ngôn.

1.1. Giới Thiệu Chung Về Ẩn Dụ Ý Niệm Trong Ngôn Ngữ Kinh Tế

Ẩn dụ ý niệm đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và truyền tải các khái niệm kinh tế trừu tượng. Theo Henderson, ẩn dụ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các hiện tượng phức tạp của thị trường chứng khoán. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn kinh tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận đã chứng minh tầm quan trọng của ẩn dụ trong việc định hình tư duy và hành vi kinh tế.

1.2. Tính Cấp Thiết Của Nghiên Cứu Ẩn Dụ Thị Trường Chứng Khoán

Hiện nay, có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn thị trường chứng khoán. Trong khi đó, ngôn ngữ sử dụng để tường thuật, phân tích, bình luận thị trường chứng khoán lại vô cùng sinh động và phong phú, chứa đựng rất nhiều biểu thức ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán. Nghiên cứu này lấp đầy khoảng trống lý luận, cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thị trường chứng khoán được nhận thức và diễn đạt thông qua ẩn dụ.

II. Thách Thức Trong Phân Tích Ẩn Dụ Thị Trường Chứng Khoán Anh Việt

Việc phân tích ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt đối mặt với nhiều thách thức. Thứ nhất, sự khác biệt về văn hóa và lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán ở hai quốc gia có thể ảnh hưởng đến cách các ẩn dụ được sử dụng và hiểu. Thứ hai, sự du nhập của các thuật ngữ và khái niệm từ tiếng Anh vào tiếng Việt có thể tạo ra những biến thể ẩn dụ mới, đòi hỏi sự phân tích cẩn thận. Cuối cùng, việc xác định và phân loại các ẩn dụ ý niệm đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về cả ngôn ngữ học tri nhận và lĩnh vực tài chính.

2.1. Rào Cản Văn Hóa Trong Nhận Thức Ẩn Dụ Thị Trường Chứng Khoán

Cơ chế tri nhận ngoài tính phổ quát vẫn mang đặc điểm văn hoá cụ thể và các yếu tố văn hoá có thể gây ra các dị biệt trong việc sử dụng các biểu thức ẩn dụ ý niệm và gây khó dễ cho người sử dụng ngôn ngữ. Do đó việc đối chiếu ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ Việt sẽ giúp tìm ra sự tương đồng và dị biệt của các biểu thức ẩn dụ ý niệm ở hai ngôn ngữ, từ đó rõ hơn về mối liên hệ giữa văn hoá, tư duy, và ngôn ngữ.

2.2. Ảnh Hưởng Của Tiếng Anh Đến Ẩn Dụ Thị Trường Chứng Khoán Việt

Thực tế cho thấy khả năng ngôn ngữ TTCK trong tiếng Việt chịu ảnh hưởng của tiếng Anh vì TTCK Việt Nam ra đời rất lâu sau TTCK thế giới trên cơ sở kế thừa. Trên thế giới, TTCK đã hoạt động hàng trăm năm với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ đầu tiên với TTCK Anh và TTCK Mỹ từ thế kỷ 18 nên tương ứng với nó là sự phát triển lâu đời của ngôn ngữ thị trường chứng khoán trong tiếng Anh.

III. Phương Pháp Phân Tích Diễn Ngôn Ẩn Dụ Thị Trường Chứng Khoán

Luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để phân tích diễn ngôn thị trường chứng khoán. Phương pháp định lượng giúp so sánh trực tiếp các kết quả tìm thấy giữa hai ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt. Phương pháp định tính được dùng để nghiên cứu sâu hơn các ánh xạ ẩn dụ có mặt trong hai khối ngữ liệu và cách sử dụng các biểu thức ẩn dụ, làm sáng tỏ cách thức tri nhận về TTCK, từ đó phát hiện ra các nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt.

3.1. Quy Trình Nhận Diện Ẩn Dụ Ý Niệm MIP Pragglejaz

Việc khảo sát ngữ liệu và nhận diện các biểu thức ẩn dụ ý niệm được thực hiện theo Quy trình nhận dạng ẩn dụ ý niệm (Metaphor Identification Procedure) của nhóm Pragglejaz. Các từ điển sau được dùng để giúp xác định nghĩa của từ: Online etymology dictionary (từ điển từ nguyên tiếng Anh), Oxford English Dictionary, Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý.

3.2. Nghiên Cứu Liên Ngành Văn Hóa Ngôn Ngữ Về Thị Trường Chứng Khoán

Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hoá-ngôn ngữ được áp dụng vì chúng tôi sử dụng các đặc trưng văn hoá, và các yếu tố bối cảnh văn hoá xã hội để giải thích các tương đồng và dị biệt của các biểu thức ADYN trong tiếng Anh và tiếng Việt. Thủ pháp thống kê, phân loại: dùng để thống kê các dụ dẫn và nhóm theo lĩnh vực nguồn, theo tần xuất xuất hiện của chúng, theo mức độ phổ biến và theo các đặc điểm ngôn ngữ-văn hoá trên cơ sở dữ liệu các bản tin tiếng Anh và tiếng Việt thu thập được.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Ẩn Dụ Ý Niệm Về Thị Trường Chứng Khoán

Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong thị trường chứng khoán có nhiều ứng dụng thực tiễn. Đầu tiên, nó giúp các nhà đầu tư và người đọc hiểu rõ hơn về các khái niệm và diễn biến phức tạp của thị trường. Thứ hai, nó cung cấp công cụ hữu ích cho việc phân tích và dự báo thị trường. Thứ ba, nó hỗ trợ việc giảng dạy và dịch thuật các tài liệu liên quan đến thị trường chứng khoán. Cuối cùng, nó góp phần vào việc nâng cao nhận thức về vai trò của ngôn ngữ trong lĩnh vực kinh tế.

4.1. Giải Mã Ngôn Ngữ Thị Trường Chứng Khoán Cho Nhà Đầu Tư

Ở Việt Nam TTCK hoạt động chuyên nghiệp chỉ mới 10 năm nay nên có nhiều khái niệm trừu tượng còn khó hiểu với nhiều người, và không phải ai cũng hiểu được các thuật ngữ cũng như nghĩa ngầm ẩn của các biểu thức ADYN trong các diễn ngôn về TTCK. Vì vậy việc nghiên cứu các biểu thức ẩn dụ ý niệm là cần thiết vì nó sẽ giúp hiểu biết đầy đủ và toàn diện về lĩnh vực thị trường chứng khoán thông qua các ẩn dụ ý niệm.

4.2. Hỗ Trợ Nghiên Cứu Liên Văn Hóa và Dịch Thuật Tài Chính

Việc đối chiếu ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ Việt sẽ giúp tìm ra sự tương đồng và dị biệt của các biểu thức ẩn dụ ý niệm ở hai ngôn ngữ, từ đó rõ hơn về mối liên hệ giữa văn hoá, tư duy, và ngôn ngữ giúp cho độc giả và người sử dụng ngôn ngữ tự tin hơn, đồng thời cũng giúp ích cho việc nghiên cứu liên văn hoá cũng như ứng dụng giảng dạy và dịch thuật ngôn ngữ thị trường chứng khoán.

V. Kết Luận Tương Lai Nghiên Cứu Ẩn Dụ Thị Trường Chứng Khoán

Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán là một lĩnh vực đầy hứa hẹn, với nhiều cơ hội để khám phá và phát triển. Trong tương lai, các nghiên cứu có thể tập trung vào việc phân tích các ẩn dụ mới xuất hiện trong bối cảnh thị trường chứng khoán toàn cầu hóa và sự phát triển của công nghệ. Ngoài ra, việc nghiên cứu so sánh ẩn dụ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng sẽ mang lại những hiểu biết sâu sắc về tư duy và văn hóa kinh tế của các quốc gia.

5.1. Hướng Nghiên Cứu Mới Về Ẩn Dụ Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa

Trong bối cảnh thị trường chứng khoán toàn cầu hóa và sự phát triển của công nghệ, các nghiên cứu có thể tập trung vào việc phân tích các ẩn dụ mới xuất hiện. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách các nhà đầu tư và chuyên gia tài chính sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt và hiểu về thị trường.

5.2. So Sánh Ẩn Dụ Thị Trường Chứng Khoán Đa Ngôn Ngữ

Việc nghiên cứu so sánh ẩn dụ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng sẽ mang lại những hiểu biết sâu sắc về tư duy và văn hóa kinh tế của các quốc gia. Điều này giúp chúng ta nhận ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách các nền văn hóa khác nhau nhìn nhận và tương tác với thị trường chứng khoán.

08/06/2025
Luận án tiến sĩ ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng anh và tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn kinh tế 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Ngay từ những năm 1994, 1995, McCloskey đã đánh bại quan điểm là trong diễn ngôn kinh tế hầu như không có ẩn dụ. Nếu như trước đây các nhà kinh tế quan niệm chỉ dựa vào các mô hình và toán học có thể giải thích toàn bộ các vấn đề kinh tế thì sau này họ đã nhìn nhận thấy sai lầm của việc sử dụng quá nhiều toán học trong các bài viết về kinh tế (Quddus & Rashid [132]; Streeten [143]). Các nhà kinh tế đã chuyển sang tận dụng lợi thế của ngôn ngữ, sử dụng nhiều hơn biện pháp tu từ trong đó có ẩn dụ, nhất là trong các diễn ngôn ít tính học thuật hơn, ví dụ như diễn ngôn báo chí, nhằm giúp cho nội dung truyền tải trở nên dễ hiểu hơn đối với đại chúng, hay nói một cách khác là khiến cho chúng trở thành các câu chuyện đơn giản hơn (McCloskey [116]).

Nhà kinh tế học người Mỹ McCloskey là người tiên phong nghiên cứu chuyên sâu ẩn dụ trong kinh tế. Bà cho rằng ẩn dụ là phép tu từ quan trọng nhất và có ý nghĩa đối với việc tư duy kinh tế. Giống như các nhà nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác, các nhà kinh tế học sử dụng ẩn dụ làm công cụ phản ánh các hoạt động và khái niệm kinh tế và các ẩn dụ xuất hiện hoàn toàn tự nhiên trong các diễn ngôn kinh tế. Các nghiên cứu của Henderson [84], [85], McCloskey [116], [117] và Charteris-Black [46], [47] cũng đều cho thấy rằng ẩn dụ trong kinh tế đóng vai trò quan trọng đối với việc hiểu các lý thuyết và hiện tượng kinh tế trừu tượng.

Từ những năm 2000 trở lại đây xuất hiện một xu hướng nghiên cứu tìm hiểu hiện tượng ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn kinh tế thông qua các phương pháp phân tích diễn ngôn và phân tích khối liệu. Xu hướng này kết hợp quan điểm tri nhận về ẩn dụ trong khi xem xét bản chất thường quy của chúng, đồng thời cũng liên kết chặt chẽ ẩn dụ ý niệm với ẩn dụ ngôn từ trên cả hai bình diện lý thuyết và thực nghiệm. Tổng quan này nhóm các nghiên cứu thành 3 nhóm (nghiên cứu dưới góc độ ngữ nghĩa và tri nhận, nghiên cứu dưới góc độ ngữ dụng, nghiên cứu dưới góc độ xã hội học). Các nghiên cứu dưới góc độ ngữ nghĩa và tri nhận 8 Các nghiên cứu thuộc nhóm này xuất phát ban đầu từ nhu cầu ứng dụng cho giảng dạy từ vựng kinh tế qua các ẩn dụ.

Theo Henderson [84] sở dĩ ẩn dụ xuất hiện khá phổ biến trong các văn bản kinh tế vì ẩn dụ là một công cụ ngôn từ được sử dụng trong kinh tế học để (i) thuyết phục và (ii) giải thích các hiện tượng kinh tế mới thông qua các khái niệm cũ đã biết. Henderson trong nghiên cứu sau đó vào năm 1994 đã xác định ba vai trò của ẩn dụ trong các diễn ngôn kinh tế là: (i) Sự trang trí cho văn bản hay có thể là công cụ hỗ trợ giảng dạy để minh hoạ hay lấy ví dụ (ii) Quy tắc tổ chức tập trung cho tất cả các ngôn ngữ (iii) Công cụ để tìm hiểu các vấn đề kinh tế và làm cơ sở cho việc mở rộng miền ý niệm về kinh tế. Theo đó thì vai trò thứ ba của ẩn dụ là để tìm hiểu sâu các khái niệm kinh tế và xây dựng các mô hình dự đoán cho các hoạt động kinh tế. Cách chia các vai trò ẩn dụ như vậy cũng trùng với cách phân loại của Goatly’s [80] và đến Skorczynska & Deignan [138] họ dán nhãn khác cho các vai trò này là ‘illustrating’ (minh hoạ), ‘generic’ (sản sinh) and ‘modelling’ (tạo khuôn).

Đây cũng là cách tạo ra thuật ngữ cho các ý niệm mới trong kinh tế mà ngôn ngữ tổng quát chưa có. Gao [68] nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong bản tin tài chính trên The Economist năm 2007 và bà phân loại các ẩn dụ thành 3 loại là ẩn dụ có miền nguồn là CHIẾN TRANH, ẩn dụ có miền nguồn là THỂ THAO, ẩn dụ có miền nguồn là NÔNG NGHIỆP đồng thời kết luận rằng các thuật ngữ cụ thể từ kinh nghiệm trong thế giới vật lý được sử dụng để hiểu các khái niệm kinh tế trừu tượng và việc nghiên cứu các ẩn dụ tri nhận sẽ giúp nuôi dưỡng tư duy mang tính ẩn dụ về các diễn ngôn kinh tế, tức là sử dụng các thuật ngữ cụ thể một cách ẩn dụ để giúp người đọc hiểu diễn ngôn kinh tế. Cardini [45] nghiên cứu trên khối liệu 100,000 từ của các văn bản trên tờ The Economist và The International Economy trong quãng thời gian 2008-2012 và tìm ra hơn 40 ẩn dụ ý niệm về KINH TẾ miêu tả về cuộc khủng hoảng kinh tế trong đó loại ẩn dụ coi nền kinh tế như một đồ vật bị phá hủy là phổ biến nhất, và hai tờ báo khác nhau này có lượng ngôn ngữ ẩn dụ cũng khác nhau. Đây là nghiên cứu mà đã phân loại được nhiều nhất các ẩn dụ về KINH TẾ.

Ngôn ngữ trong lĩnh vực tài chính cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm như Oberlechner và các cộng sự [125], Kovács [100], Morris và các 9 cộng sự [120]… Oberlechner và các cộng sự [125] nghiên cứu quá trình ý niệm hóa THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI bằng ẩn dụ và xem xét phương thức các ẩn dụ này góp phần cấu thành nên thị trường tài chính như thế nào. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình tri nhận về thị trường của các đối tượng nghiên cứu xoay quanh bảy ẩn dụ, đó là THỊ TRƯỜNG LÀ SẠP HÀNG, THỊ TRƯỜNG LÀ ĐỘNG CƠ, THỊ TRƯỜNG LÀ CỜ BẠC, THỊ TRƯỜNG LÀ THỂ THAO, THỊ TRƯỜNG LÀ CHIẾN TRANH, THỊ TRƯỜNG LÀ CƠ THỂ SỐNG và THỊ TRƯỜNG LÀ ĐẠI DƯƠNG. Mỗi loại ẩn dụ như vậy có chức năng đề cao hoặc che mờ một số bình diện nào đó của thị trường. Chúng cũng kéo theo một loạt các hàm ý khác nhau về các phương diện thị trường như vai trò của người tham gia thị trường hay khả năng đoán trước thị trường.

Ông cũng đưa ra sơ đồ về tính chất có thể dự đoán của các loại ẩn dụ ý niệm về thị trường hối đoái, trong đó các ẩn dụ CHIẾN TRANH, ẩn dụ CƠ THỂ NGƯỜI thuộc nhóm không thể dự đoán, còn ẩn dụ THỂ THAO, ẩn dụ CỖ MÁY thuộc nhóm có thể dự đoán. Ẩn dụ BIỂN nằm ở giữa. Đồng thời xét về tiêu điểm ẩn dụ (metaphor focus) theo sơ đồ đó thì các ẩn dụ BIỂN, ẩn dụ CỖ MÁY, ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG có mục đích là quan sát để hiểu và dự báo; trong khi ẩn dụ CHIẾN TRANH, ẩn dụ THỂ THAO có tiêu điểm là tham gia thị trường và mục đích là chiến thắng. (xem hình 1 phụ lục C) Kovács [100] trong bài báo đăng năm 2006 trên tạp chí The Economist đã tiếp tục chứng tỏ quan điểm của các nhà tri nhận luận rằng ẩn dụ không chỉ là một biện pháp tu từ mà nó lan tỏa trong tư duy và ý niệm của con người, do đó nó tồn tại khắp nơi và có nhiều trong ngôn ngữ thương mại.

Tác giả đã hệ thống hóa các ẩn dụ ý niệm có trong diễn ngôn thương mại và cùng với các công trình khác về so sánh đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn thương mại ở tiếng Anh, Đức và Hungari góp phần giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ kinh tế thương mại tài chính. Tác giả nhóm các ẩn dụ thành các loại theo miền nguồn như sau: - KINH TẾ/KINH DOANH LÀ CƠ THỂ NGƯỜI (TÌNH TRẠNG CÔNG TY LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHOẺ, CÁC KHÓ KHĂN LÀ BỆNH TẬT, CÁC GIẢI PHÁP KINH TẾ LÀ GIẢI PHÁP CHỮA BỆNH, KINH TẾ PHỤC HỒI LÀ BỆNH NHÂN PHỤC HÔI, KINH TẾ SỤP ĐỔ LÀ BỆNH NHÂN CHẾT) -KINH TẾ LÀ CHIẾN TRANH -KINH DOANH LÀ THỂ THAO (KINH DOANH LÀ BÓNG ĐÁ, KINH DOANH LÀ SĂN BẮN, KINH DOANH LÀ ĐẤM BỐC…) -KINH DOANH LÀ TRÒ CHƠI -KINH DOANH LÀ HÔN NHÂN 10 -KINH DOANH LÀ BIỂU DIỄN Đặc biệt là từ năm 2000 tới nay có rất nhiều nghiên cứu so sánh đối chiếu văn hoá về ẩn dụ trong diễn ngôn kinh tế nói chung và diễn ngôn tài chính nói riêng. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng ẩn dụ ý niệm mang tính đặc trưng văn hoá và giải thích cách sử dụng ẩn dụ dựa trên các đặc điểm tương đồng và khác biệt về văn hoá, tự nhiên, vật lý. Rojo López và Orts Llopis [134] nghiên cứu việc ý niệm hóa bằng ẩn dụ cuộc khủng hoảng kinh tế trên báo chí tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, thu thập các bài báo trên The economist và El Economista trong các giai đoạn khác nhau (tháng 6-tháng 11 năm 2007 và tháng 9-tháng 12 năm 2008).

Kết quả nghiên cứu cho thấy tại giai đoạn năm 2007 khi Tây Ban Nha đang tiến tới cuộc bầu cử trong nước trong thì trong dữ liệu tiếng Tây Ban Nha có nhiều ẩn dụ với các khung về tình hình kinh tế bằng các từ ngữ/biểu thức ngôn ngữ mang tính tích cực, trong khi đó thì ở các bài báo tiếng Anh thì các từ ngữ mang tính tiêu cực lại xuất hiện chủ yếu, báo hiệu giai đoạn khủng hoảng sau đó. Trong luận án tiến sĩ của mình, Luporini [113] nghiên cứu việc sử dụng các ẩn dụ ý niệm miêu tả cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 2008 trên khối liệu là các bài báo của The Financial Times (tiếng Anh) và II Sore 24 Ore (tiếng Ý). Kết quả cho thấy ở cả hai khối liệu đều sử dụng các miền nguồn giống nhau cho các ẩn dụ và trong cả hai ngôn ngữ, các ẩn dụ thường xuyên nhất đều là các ẩn dụ có miền nguồn là CƠ THỂ SỐNG, ẨN DỤ VẬT CHỨA, ẨN DỤ SỨC KHỎE (THỂ CHẤT/TINH THẦN), ẨN DỤ CHIẾN TRANH/XUNG ĐỘT, VÀ ẨN DỤ THỜI TIẾT/LỰC LƯỢNG TỰ NHIÊN. Sự khác biệt giữa hai khối liệu nằm ở tầng sâu hơn.

Nghiên cứu sâu hơn về các biểu thức ngôn ngữ cho thấy khối liệu tiếng Ý thì có xu hướng miêu tả khủng hoảng bằng các thuật ngữ mang tính “thảm họa” đặc biệt là trong mô hình ẩn dụ KHỦNG HOẢNG LÀ CHẤT NỔ, KHỦNG HOẢNG LÀ THIÊN TAI. Trong khối liệu tiếng Ý, tiểu ngữ liệu là các bài báo trang nhất có sử dụng nhiều nhất các ẩn dụ có miền nguồn CHIẾN TRANH/XUNG ĐỘT làm nổi bật các đặc tính như “bạo lực” hay “hiếu chiến” ở trong miền đích KHỦNG HOẢNG.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ