CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VE NGHĨA VỤ TÀI SAN CUA DOANH NGHIỆP BỊ YÊU CÂU PHÁ SẢN 1. Nghĩa vụ tài sản và phân loại nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp bị yêu cầu phá sản 1. Khái niệm nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp bị yêu cầu phá sản Dưới sự tác động của các quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường , hoạt động kinh doanh thua lỗ của các doanh nghiệp là điều khó tránh khái. Việc kinh doanh thua lỗ của các doanh nghiệp có thé xuất phat từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
Có những nguyên nhân khách quan như sự bat trắc và biến động trong nền kinh tế thị trường mà doanh nghiệp không lưêng trước được; khó khăn về khách hàng, cách thức quản lý của các cơ quan quản lý kinh doanh. Bên cạnh đó, cũng có thể việc kinh doanh thua lỗ của các doanh nghiệp lại xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan như sự yếu kộm trong việc điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; chính sách phát triển thương mại của doanh nghiệp không tốt, thiếu khả năng thích ứng Với những biến động trên thương trườnghoặc doanh nghiệp thường xuyên gặp khó khăn về tài chính. Hoạt động kinh doanh kộm hiệu quả dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ. Đề bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, ở mỗi quốc gia đều có các quy định pháp lý về nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp mặc nợ, cho phộp các chủ nợ được yêu cầu con nợ thanh toán các khoản nợ của mình.
Nhiều doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh, có thể thanh toán đầy đủ các khoản nợ đến hạn khi được chủ nợ yêu cầu. Nhưng một số doanh nghiệp khác, do hoạt động kinh doanh thua lỗ kộo dài đó dẫn đến tình trạng không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn; mặc dù đó cố gắng áp dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm có tiền mặt để trả nợ, nhưng doanh nghiệp vẫn không khụi phục được khả năng thanh toán nợ của mình. Người ta nói rằng doanh nghiệp trên bị lâm vào tình trạng phá san. Dé đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ và của chính doanh nghiệp mắc nợ, thủ tục phá sản được đặt ra để giải quyết tình trạng này.
ở Việt Nam, trong tiếng Việt phổ thông, các khái niệm “khánh tận”, “mat khả năng thanh toán” hay “phá san” được dựng dé chi tình trạng không tra được nợ. Bộ luật Thương mại Trung phần được ban hành ngày 12/6/1942 theo Dụ số 46 của Bảo Đại, có hiệu lực từ ngày 25/01/1944 và chính thức hết hiệu lực ở miền Nam ngày 20/12/1972 là đạo luật thương mại đầu tiên của người Việt Nam. Vay mượn pháp luật phá sản của Pháp, đạo luật này sử dụng hai thuật ngữ “khánh tận” và “phá sản” hầu như đồng nghĩa [28, tr. Tại Điều 864 Bộ luật Thương mại được chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành ngày 20/12/1972 quy định: “Thwong gia ngưng trả nợ sẽ bị tuyên an khánh tan”.
Nhu vậy, “khánh tận” còn được hiểu là mat khả năng thanh toán. Tuy nhiên, khi phá sản được thừa nhận là một hiện tượng bình thường trong nên kinh tế thị trường thì thuật ngữ “phá sản” mới chính thức được quy định trong hai văn bản pháp lý quan trọng là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (ban hành ngày 21/12/1990). Việc xác định khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là rất quan trọng bởi đây là cơ sở để Toà án xem xét mở thủ tục phá sản. Luật phá sản của mỗi quốc gia có những quan niệm khác nhau dé xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Hiện nay, trên thế giới có hai khuynh hướng chủ yếu trong việc xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản: Thứ nhất, tiêu chí định tính. Theo tiêu chí này, doanh nghiệp lâm vào tình trang phá sản là doanh nghiệp có tông số nợ lớn hơn kha năng thanh toán. Việc xác định này được dựa trên bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp. Ví dụ: Pháp luật của Vương quốc Bi quy định một doanh nghiệp mat khả năng thanh toán nợ là doanh nghiệp không trả được nợ đến hạn, bị mất uy tớn về mặt tài chính (Tức là không còn đủ tài sản đê bảo đảm các sô nợ của mình hoặc kiêm cách trả nợ bằng các phương pháp bất thường).
Hoặc theo Luật Phá sản của Liên bang Nga năm 2002 (được sửa đôi, bố sung năm 2004), tại Điều 2 quy định: “Khánh tận (phá sản) - là sự tuyên bố của Toà án trọng tài về việc con nợ không còn khả năng thanh toán đây đủ các nghĩa vụ tiền tệ và nghĩa vụ thanh toan khác theo yêu cầu của chủ nợ”. Bên cạnh đó, Luật Phá sản của Liên bang Nga còn giải thích thế nào là “nghĩa vụ tiền tệ” và “nghĩa vụ thanh toán”. “Nghia vụ tiền tệ” là nghĩa vụ của con nợ phải thanh toán cho chủ nợ một khoản tiền nhất định, phát sinh từ các giao dịch dân sự hoặc trên cơ sở các căn cứ khác theo quy định của pháp luật. Còn “nghĩa vụ thanh toán” là các khoản thuế và các khoản thu nộp ngân sách bắt buộc khác.
Như vậy, theo khuynh hướng định tính, để xác định doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản hay chưa người ta chủ yếu dựa vào sự cân đối giữa nợ đến hạn và tình hình tài chính của doanh nghiệp mắc nợ. Thứ hai, tiêu chí định lượng. Theo tiêu chí này, người mac nợ mà không trả được nợ đến hạn Với hạn mức giá trị nhất định theo luật định thì sẽ bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Ví dụ: Luật Phá sản của nước Anh quy định rõ một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ khi có một chủ nợ Với số tiền trên 50 bảng đó: Gửi đơn đến đòi nợ doanh nghiệp và sau ba tuần lễ doanh nghiệp đó không trả nợ hoặc không thương lượng xong Với chủ nợ hoặc không tìm ra được biện pháp bảo đảm thoả đáng số nợ; có một án lệnh bắt doanh nghiệp trả nợ mà không thể thi hành được; khiếu nại số nợ không xong thì coi như đó mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và sẽ bị đưa vào thi hành thủ tục phá sản doanh nghiệp [10, tr.
Theo khuynh hướng định lượng, chỉ cần xem xét đến khả năng thanh toán đối với nợ đến hạn của doanh nghiệp mà không cần quan tâm đến tài sản hiện có của doanh nghiệp. Do đó, khả năng mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp được sớm hơn nên các giải pháp phục hồi hoặc cho doanh nghiệp phá sản có thé tiến hành kịp thời khi doanh nghiệp chưa thật sự kiệt qué về tài chính, bảo vệ hiệu quả lợi ích của doanh nghiệp mắc nợ và các chủ nợ. Việc chứng minh doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản của các chủ nợ được quy định thuần tuý mà không phải đi sâu vào cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. Hơn nữa, trên thực tế các chủ nợ rất khó có khả năng tìm hiểu kỹ được cơ cấu tài chính của doanh nghiệp mắc nợ.
Pháp luật về phá sản doanh nghiệp của Việt Nam qua các thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội cũng đó cố găng đưa ra các dấu hiệu cụ thé dé xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Điều 2 Luật Phá sản doanh nghiệp (1993) quy định: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng pha sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đó áp dụng các biện pháp tài chính can thiết mà vẫn mắt khả năng thanh toán nợ đến han”. Các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục tình trạng mat kha năng thanh toán nợ đến hạn bao gồm: Có phương án tô chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm; có biện pháp xử lý hàng hoá, vật tư tồn đọng; thương lượng Với các chủ nợ dé hoán nợ, mua nợ, bảo lãnh, giảm nợ, xoá nợ; vay ngân hàng dé trả các khoản nợ đến hạn. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 189/CP ngày 23/12/1994 hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp (1993) thì dau hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp bị thua lỗ trong hai năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp.
Luật Phá sản năm 2004 đó thay đôi dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Điều 3 Luật Phá sản quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cau thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Như vậy, so Với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 thì Luật Phá sản chỉ sử dụng một dấu hiệu duy nhất là “không có khả năng thanh toán nợ đến hạn” dé xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. 10 Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều loại nghĩa vụ khác nhau, trong đó có các nghĩa vụ về tài sản hay còn gọi là các khoản nợ.
“Nghĩa vụ” theo Từ dién tiếng Việt của Nhà xuất ban Da Nang năm 1998 được hiểu là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đổi với xã hội, đối với người khác [21, tr. Cũng theo từ điển này, “tài sản” được hiểu là của cải vật chất dựng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dung [27, tr. Tuy nhiên, các định nghĩa này chi là định nghĩa trong ngôn ngữ phổ thông chứ không phải là định nghĩa trên phương diện pháp lý của khái niệm nghĩa vụ tài sản. Theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2005 thì nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thê (gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyền giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tê có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thé khác (gọi chung là bên có quyền).
Luật Phá sản không đưa ra khái niệm nghĩa vụ tài sản mà chỉ đưa ra cách xác định nghĩa vụ về tài sản.