Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quan hệ giữa cha mẹ và con là mối quan hệ nền tảng của gia đình và xã hội, mang ý nghĩa kép về cả phương diện pháp lý lẫn phương diện xã hội học:
- Về phương diện pháp lý: Việc xác lập quan hệ cha, mẹ, con được pháp luật và cộng đồng thừa nhận, là căn cứ trực tiếp làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhân thân, nghĩa vụ cấp dưỡng, đồng thời là cơ sở pháp lý để giải quyết kịp thời các tranh chấp phát sinh giữa các thành viên.
- Về phương diện xã hội: Quan hệ này định hình đơn vị gia đình – tế bào của xã hội, giữ vai trò duy trì nòi giống, tái sản xuất sức lao động và bảo tồn các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và sự chuyển dịch kinh tế - xã hội, những biến động về lối sống dẫn tới nguy cơ xói mòn giá trị tinh thần, làm gia tăng tình trạng cha mẹ thiếu trách nhiệm hoặc xâm phạm quyền lợi của con cái, cũng như tình trạng con cái bất hiếu, bỏ mặc cha mẹ già yếu. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tập trung nghiên cứu đề tài "Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha mẹ và con theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014".
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm bốn nội dung:
- Thứ nhất: Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con.
- Thứ hai: Phân tích hệ thống các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và văn bản liên quan điều chỉnh quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con.
- Thứ ba: Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật, chỉ ra những kết quả đạt được, các tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Thứ tư: Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Hôn nhân và gia đình cũng như các đạo luật chuyên ngành có liên quan nhằm bảo đảm tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình cùng thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 đặt trong sự đối chiếu với các văn bản pháp luật trước đây và pháp luật chuyên ngành hiện hành; phạm vi thực tiễn giới hạn trong việc thực thi quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con tại Việt Nam trong những năm gần đây.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình, kết hợp với các nguyên tắc nhân quyền và quyền trẻ em theo chuẩn mực quốc tế:
-
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tư liệu lịch sử:
- Hiến pháp các năm 1946, 1980, 1992, 2013.
- Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000 và trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.
- Các văn bản dưới luật: Nghị định 144/2021/NĐ-CP, Nghị định 82/2020/NĐ-CP, Quyết định số 279/QĐ-TTg ngày 20/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ.
- Tư liệu lập pháp lịch sử: Cổ luật Việt Nam (Quốc triều hình luật), Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, Sắc lệnh số 159; Ba bộ Dân luật thời kỳ Pháp thuộc (Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936).
- Điều ước quốc tế: Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (UNCRC).
-
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên dụng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và hệ thống hóa: Thu thập, sàng lọc, phân loại các nguồn lý luận, văn bản pháp luật và án văn.
- Phương pháp phân tích pháp lý: Mổ xẻ từng điều khoản luật, làm rõ nội hàm các khái niệm, điều kiện áp dụng chế tài.
- Phương pháp lịch sử và so sánh luật học: Khảo cứu sự tiến hóa của các quy phạm qua từng giai đoạn lịch sử từ phong kiến, Pháp thuộc đến các thời kỳ lập hiến và lập pháp hiện đại.
- Phương pháp quy nạp và tổng hợp: Rút ra kết luận khoa học và đánh giá bản chất quan hệ nhân thân ở cuối mỗi chương nghiên cứu.
-
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu pháp điển hóa; các công trình nghiên cứu khoa học (luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hợi, Bùi Khánh Huyện, Đỗ Thị Thu Hương, Trần Linh Giang); báo cáo thống kê chính thức của Tòa án nhân dân tối cao (năm 2019, 2021, 2022); các bản án thực tế (Bản án số 27/2023/HNGĐ-ST của TAND huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi) và các vụ việc xét xử điển hình được ghi nhận công khai.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con
Chương 1 xác lập cơ sở khái niệm, chỉ ra các đặc trưng bản chất của quyền và nghĩa vụ nhân thân trong quan hệ gia đình, đồng thời phân tích tiến trình lập pháp tại Việt Nam:
-
Khái niệm và đặc điểm pháp lý: Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ gắn liền với giá trị nhân thân của mỗi cá nhân, mang lại lợi ích tinh thần, thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm hai chiều mà không phân biệt con trong hay ngoài giá thú. Khóa luận luận giải 5 đặc điểm cốt lõi:
- Tính chất phi tài sản: Hướng đến giá trị tình cảm, đạo đức, không thể tính toán hay quy đổi ngang giá bằng tiền tệ.
- Tính gắn liền với chủ thể: Gắn chặt với nhân thân cha, mẹ, con, mang tính cá nhân tuyệt đối và không thể chuyển giao, ủy quyền hay trở thành đối tượng của các giao dịch mua bán, tặng cho.
- Tính tương ứng qua lại: Quyền của chủ thể này là nghĩa vụ tương ứng của chủ thể kia (cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy tương ứng với quyền của con được chăm sóc).
- Tính chi phối bởi yếu tố tình cảm: Được hình thành dựa trên mối liên kết tự nhiên, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, mang tính tự nguyện cao.
- Tính gắn kết với trách nhiệm gia đình: Đi liền với trách nhiệm bảo đảm các điều kiện sống chung của tập thể gia đình nhưng không được xâm phạm quyền cá nhân cơ bản.
-
Tiến trình lập pháp qua các thời kỳ:
| Thời kỳ lịch sử |
Nguồn pháp luật tiêu biểu |
Đặc điểm điều chỉnh quan hệ nhân thân cha mẹ - con |
| Trước 1945 |
Quốc triều hình luật, Ba bộ Dân luật thời Pháp thuộc (1883, 1931, 1936) |
Chịu ảnh hưởng Nho giáo nặng nề; duy trì chế độ gia trưởng, đa thê, "trọng nam khinh nữ"; phân biệt đối xử giữa con trong và ngoài giá thú; quyền cá nhân của con cái bị phụ thuộc tuyệt đối vào người cha. |
| 1945 – 1959 |
Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 97/SL (1950), Sắc lệnh 159 |
Bước đầu xóa bỏ tàn tích phong kiến; công nhận quyền tự do kết hôn của con đã thành niên không cần sự ưng thuận bắt buộc của cha mẹ. |
| 1959 – 1986 |
Luật HN&GĐ 1959, Hiến pháp 1980 |
Lần đầu tiên quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ nhân thân tại Chương 4 (Điều 17); Hiến pháp 1980 (Điều 64) hiến định nghĩa vụ nuôi dạy con thành "công dân có ích cho xã hội". |
| 1986 – 2014 |
Luật HN&GĐ 1986, Luật HN&GĐ 2000, Hiến pháp 1992 |
Bổ sung trách nhiệm giáo dục toàn diện (thể chất, trí tuệ, đạo đức); mở rộng sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. |
| 2014 đến nay |
Luật HN&GĐ 2014, Hiến pháp 2013, BLDS 2015 |
Chuẩn hóa toàn diện, đồng bộ với pháp luật dân sự; thiết lập cơ chế hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên nhằm bảo vệ tối đa quyền trẻ em. |
- Ý nghĩa: Việc quy định quyền và nghĩa vụ nhân thân bảo đảm cơ sở pháp lý vững chắc để nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế, định hướng hành vi ứng xử, bảo vệ phẩm giá con người và củng cố chức năng xã hội của tế bào gia đình.
Chương 2: Nội dung quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con
Chương 2 phân tích chi tiết các quy phạm thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành:
-
Nghĩa vụ và quyền nhân thân của cha mẹ đối với con:
- Yêu thương, chăm sóc, giáo dục và chăm lo học tập (Điều 69, 71, 72, 81): Cha mẹ có nghĩa vụ ngang nhau trong việc nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Sau khi ly hôn, nghĩa vụ trông nom, giáo dục con vẫn tiếp tục duy trì (Điều 81). Cha mẹ có trách nhiệm làm gương, hướng dẫn và tôn trọng quyền tự do chọn nghề nghiệp, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa của con (Điều 72).
- Đăng ký khai sinh cho con (Điều 30 BLDS 2015, Điều 15 Luật Hộ tịch 2014): Xác lập tư cách công dân và phát sinh các quyền con người cơ bản. Cha mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày trẻ sinh ra tại UBND cấp xã (hoặc cấp huyện nếu có yếu tố nước ngoài).
- Đại diện hoặc giám hộ cho con (Điều 134, 136 BLDS 2015, Điều 69 Luật HN&GĐ 2014): Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên; việc định đoạt tài sản riêng của con dưới 15 tuổi phải vì lợi ích của con (từ đủ 9 tuổi phải xem xét nguyện vọng của con theo Điều 75, 76, 77).
-
Nghĩa vụ và quyền nhân thân của con đối với cha mẹ:
- Kính trọng, biết ơn, hiếu thảo và phụng dưỡng (Điều 70, 71): Đây là bổn phận pháp lý kết hợp đạo đức, áp dụng bình đẳng giữa mọi người con (con trai, con gái, con đẻ, con nuôi, con trong/ngoài giá thú).
- Giám hộ cho cha mẹ (Điều 53 BLDS 2015): Con đã thành niên thực hiện giám hộ đương nhiên cho cha mẹ khi cả hai hoặc một bên mất năng lực hành vi dân sự mà người kia không đủ điều kiện (theo thứ tự con cả, tiếp đến người con tiếp theo có đủ điều kiện).
- Quyền và nghĩa vụ khác: Tham gia lao động, đóng góp thu nhập gia đình phù hợp khả năng; quyền đối với họ, tên, dân tộc và quốc tịch theo quy định của pháp luật dân sự và hộ tịch.
-
Chế tài xử lý hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ nhân thân:
- Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên (Điều 85, 86, 87 Luật HN&GĐ 2014): Tòa án ra quyết định hạn chế quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý tài sản từ 01 năm đến 05 năm khi cha mẹ bị kết án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm con; phá tán tài sản con; có lối sống đồi trụy; xúi giục con làm việc trái luật. Cha mẹ bị hạn chế quyền vẫn bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Xử lý vi phạm hành chính: Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc (Điều 56) hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng (Điều 57); phạt từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng đối với hành vi ngược đãi, hành hạ, bỏ mặc thành viên gia đình (Điều 53) kèm biện pháp khắc phục hậu quả buộc xin lỗi công khai. Nghị định 82/2020/NĐ-CP (Điều 62, 63) xử phạt hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.
- Xử lý hình sự: Áp dụng các tội danh trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) như tội Giết người (Điều 123), tội Cố ý gây thương tích (Điều 134), tội Hành hạ người khác (Điều 140) và tội Ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu (Điều 185) với mức phạt từ cải tạo không giam giữ đến tù có thời hạn, tù chung thân hoặc tử hình.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con và kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện
Chương 3 tổng kết các kết quả đạt được, phân tích thực trạng tồn tại từ các vụ việc thực tế và đề xuất kiến nghị cụ thể:
- Những kết quả đạt được:
- Nhận thức của cha mẹ về việc nuôi dạy con cái được nâng cao rõ rệt nhờ việc triển khai Quyết định số 279/QĐ-TTg ngày 20/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ (mục tiêu đến 2020: 75% cha mẹ có con dưới 6 tuổi được cung cấp kiến thức nuôi dạy; 95% hộ gia đình dành thời gian chăm sóc trẻ; giảm 10-15% hộ có bạo lực với trẻ em mỗi năm).
- Công tác tuyên truyền phòng chống bạo lực gia đình được lồng ghép sâu rộng nhân các ngày lễ lớn (Ngày Gia đình Việt Nam 28/6, Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3, Ngày Quốc tế xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái 25/11).
- Công tác xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân các cấp đạt hiệu suất cao:
| Năm |
Số vụ việc hôn nhân và gia đình thụ lý sơ thẩm |
Số vụ việc đã giải quyết, xét xử |
Tỷ lệ giải quyết |
| 2019 |
256.256 vụ |
199.972 vụ |
81,2% (theo báo cáo chỉ tiêu) |
| 2022 |
243.734 vụ |
235.763 vụ |
96,73% |
-
Khóa luận nêu Bản án số 27/2023/HNGĐ-ST ngày 30/06/2023 của TAND huyện Nghĩa Hành (Quảng Ngãi) giải quyết tranh chấp quyền nuôi dưỡng mẹ già (cụ K, 86 tuổi) bằng phán quyết luân phiên mỗi bên con nuôi dưỡng 06 tháng, đảm bảo quyền được chăm sóc của cha mẹ già và duy trì nghĩa vụ công bằng giữa các con.
-
Những hạn chế và nguyên nhân:
- Tồn tại một bộ phận thanh thiếu niên tha hóa đạo đức, xem nhẹ nghĩa vụ hiếu thảo hoặc không nhận thức nghĩa vụ phụng dưỡng là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc.
- Tình trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em vẫn diễn biến phức tạp (số liệu điều tra xã hội học trích dẫn cho thấy gần 70% trẻ em thừa nhận từng bị cha mẹ đánh đập dưới nhiều hình thức).
- Khóa luận dẫn chứng các vụ án đặc biệt nghiêm trọng: Vụ án Nguyễn Thị Lan Anh cùng chồng bạo hành con ruột (cháu M) dẫn đến tử vong tại Hà Nội; Vụ án bà Nguyễn Thị H có hành vi hành hung, ngược đãi mẹ đẻ (bà Nguyễn Thị Đ, 79 tuổi) tại Cần Đước, Long An.
- Nguyên nhân: Mức xử phạt vi phạm hành chính chưa đủ sức răn đe; khái niệm pháp lý như "lối sống đồi trụy" (Điều 85 Luật HN&GĐ 2014) chưa có văn bản hướng dẫn giải thích cụ thể; công tác kiểm tra, giám sát sau khi Tòa án ra phán quyết hạn chế quyền còn thiếu chặt chẽ.
-
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Ban hành văn bản quy phạm dưới luật hướng dẫn cụ thể các tiêu chí xác định hành vi thuộc căn cứ hạn chế quyền của cha mẹ (đặc biệt là hành vi "có lối sống đồi trụy", "phá tán tài sản của con").
- Bổ sung quy định cơ chế giám sát thực tế việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và trách nhiệm nuôi dưỡng thay thế sau khi cha mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
- Tăng mức xử phạt tiền và bổ sung các biện pháp cưỡng chế đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, trốn tránh cấp dưỡng hoặc ngăn cản quyền thăm nom tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính kèm dữ liệu:
- Hệ thống hóa toàn diện 5 đặc trưng lý luận của quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con trong khoa học luật gia đình Việt Nam.
- Tổng hợp số liệu xét xử thực tế của hệ thống Tòa án: Năm 2019 giải quyết 199.972/256.256 vụ việc HN&GĐ; năm 2022 giải quyết 235.763/243.734 vụ việc (đạt tỷ lệ 96,73%).
- Trích dẫn thực trạng xã hội học với tỷ lệ gần 70% trẻ em từng bị bạo lực gia đình từ phía cha mẹ để chứng minh tính cấp thiết của việc hoàn thiện chế tài.
- Hệ thống kiến nghị lập pháp: Đóng góp các đề xuất có giá trị thực tiễn nhằm cụ thể hóa các điều khoản chưa có hướng dẫn tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 85) và hoàn thiện các chế tài hành chính tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
- Đóng góp so với các công trình trước: So với các nghiên cứu tiền nhiệm chỉ tập trung ở phạm vi địa phương hẹp (Trần Thị Hợi - 2016 tại Hà Nội) hoặc phân tích một khía cạnh riêng lẻ (Đỗ Thị Thu Hương - 2011 về hạn chế quyền), khóa luận đã tích hợp đầy đủ cả hai chiều quan hệ (cha mẹ đối với con và con đối với cha mẹ) trên bình diện lập pháp đa ngành (HN&GĐ, Dân sự, Hộ tịch, Hành chính, Hình sự) gắn với các số liệu và án văn cập nhật đến năm 2023.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn về nguồn dữ liệu công khai, đề tài chưa thể tiếp cận các bảng thống kê chi tiết tách biệt theo từng nhóm vụ việc nhân thân chuyên biệt (như số lượng cụ thể các vụ án yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ trên phạm vi cả nước), mà chủ yếu phân tích dựa trên tổng số vụ việc hôn nhân và gia đình chung và các bản án điểm.
- Hướng mở rộng nghiên cứu:
- Nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế về cơ chế bảo trợ xã hội và tước quyền nuôi con của các nước phát triển để hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
- Khảo sát thực chứng quy mô lớn về hiệu quả áp dụng các chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng và bạo lực gia đình trong điều kiện kinh tế số.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình làm tài liệu tham khảo nghiên cứu học thuật.
- Giảng viên giảng dạy các học phần Luật Hôn nhân và gia đình, Quyền con người và Quyền trẻ em.
- Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp cơ sở, Hội đồng hòa giải, cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ và cơ quan bảo trợ trẻ em trong công tác thực thi và phổ biến pháp luật.
- Phần nội dung giá trị nhất: Hệ thống hóa các căn cứ pháp lý và chế tài xử lý vi phạm quyền nhân thân (tại Chương 2) và phần phân tích án văn thực tế về giải quyết tranh chấp phụng dưỡng cha mẹ già (tại Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong những trường hợp nào?
Căn cứ khoản 1 Điều 85, cha mẹ bị hạn chế quyền khi thuộc một trong các trường hợp: (a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; (b) Phá tán tài sản của con; (c) Có lối sống đồi trụy; (d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2. Thời hạn Tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên là bao lâu và hậu quả pháp lý về nghĩa vụ cấp dưỡng thế nào?
Căn cứ khoản 2 Điều 85 và khoản 2 Điều 87, thời hạn hạn chế quyền là từ 01 năm đến 05 năm (Tòa án có thể xem xét rút ngắn thời hạn này). Về hậu quả pháp lý, người bị hạn chế quyền không được tiếp tục thực hiện quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con, nhưng vẫn bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Ai có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên?
Theo Điều 86, người có quyền yêu cầu gồm: Cha mẹ, người giám hộ của con; người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ. Các cá nhân, tổ chức khác khi phát hiện hành vi vi phạm có quyền đề nghị các cơ quan, tổ chức nêu trên yêu cầu Tòa án.
4. Hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha mẹ và con bị xử phạt hành chính như thế nào?
Căn cứ Điều 56 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha mẹ và con bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định có hiệu lực của Tòa án).
5. Khi cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật xác định người con nào sẽ làm người giám hộ đương nhiên?
Căn cứ khoản 2 Điều 53 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự thì người con cả có đủ điều kiện sẽ là người giám hộ; nếu người con cả không đủ điều kiện thì người con tiếp theo có đủ điều kiện sẽ là người giám hộ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quỳnh Anh đã giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tác phẩm làm rõ bản chất phi tài sản, tính ràng buộc hai chiều và tiến trình lập pháp qua các thời kỳ, đồng thời đối chiếu sâu sắc với các quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hộ tịch và pháp luật xử lý vi phạm. Thông qua việc phân tích các số liệu xét xử thực tế và những vụ án điển hình, công trình đã chỉ rõ các khoảng trống pháp lý cần hoàn thiện và đưa ra hệ thống kiến nghị xác đáng nhằm tăng cường hiệu lực bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em trong bối cảnh xã hội hiện đại.