Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ 1. NHẬN THỨC VỀ NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ Bản án, quyết định hình sự là quyết định bằng văn bản của Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử một vụ án hình sự cụ thể. Trong các bản án, quyết định hình sự của Tòa án các NVDS phát sinh từ quyết định hình phạt tiền; quyết định tịch thu tài sản; quyết định truy thu tiền, tài sản thu lời bất chính; quyết định về án phí quyết định trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi, cấp dưỡng (gọi chung là các quyết định dân sự trong bản án). Do vậy, để làm rõ NVDS trong bản án, quyết định hình sự, trước tiên cần làm rõ về hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự: 1.
Khái niệm, căn cứ áp dụng hình phạt tiền và tịch thu tài sản 1. Khái niệm, căn cứ áp dụng hình phạt tiền - Khái niệm: Theo Điều 30 BLHS, sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Toà án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người , pháp nhân thương mại đó” [36]. Mục đích của hình phạt là nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội đồng thời còn nhằm mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Mặc dù được ghi nhận khá sớm trong pháp luật hình sự, song vẫn chưa có một khái niệm pháp lý chính thức nào về hình phạt tiền trong các văn bản pháp luật hình sự và cho đến nay hình phạt tiền mới chỉ được ghi nhận trong luan an 9 các giáo trình, sách báo pháp lý chuyên ngành.
Có thể kể đến một số quan điểm sau: - Phạt tiền là một loại hình phạt được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác. Phạt tiền do Tòa án quyết định trong những trường hợp do luật định mà theo đó người bị kết án buộc phải trả một số tiền tùy theo mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, đồng thời xem xét đến tình hình tài sản của người bị kết án và sự biến động của giá cả. - Phạt tiền là hình phạt không tước tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ, buộc người bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nước một khoản tiền nhất định. - Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước.
Các khái niệm trên mặc dù đã cố gắng chỉ ra các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của hình phạt tiền nhưng còn dài dòng, chưa phù hợp với một khái niệm mang tính chất pháp lý. Khái niệm "Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước" sử dụng thuật ngữ pháp lý "người phạm tội" để chỉ đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền là chưa hợp lý vì chỉ những người bị Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tiền mới bị tước một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước. Do vậy, sẽ là chính xác hơn nếu sử dụng thuật ngữ "người bị kết án" thay cho thuật ngữ "người phạm tội". Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Phạt tiền là hình phạt được qui định trong Bộ luật hình sự Việt Nam, nhằm tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước.
- Căn cứ áp dụng hình phạt tiền: Trong hệ thống hình phạt Việt Nam, hình phạt tiền có thể được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Trong tổng số 318 Điều luật qui định về tội phạm cụ thể quy định trong Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung luan an 10 2017, số điều luật qui định hình phạt tiền là hình phạt chính có 114/318 chiếm tỷ lệ 35,8%. Tại Khoản 1 Điều 33 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội: ‘‘1. Hình phạt chính bao gồm: Phạt tiền” [36] Khoản 1 Điều 35 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 qui định căn cứ để áp dụng phạt tiền là hình phạt chính như sau: 1.
Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây: a) Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do bộ luật này quy định; b) Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật này qui định. Hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Điều 77 của Bộ luật này [34]. Điều 77 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 qui định quy định: 1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50. Như vậy, phạt tiền được qui định là hình phạt chính cho các nhóm tội phạm sau: + Nhóm tội phạm có tính chất vụ lợi, như: Tội buôn lậu; tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm; tội đầu cơ; tội trốn thuế; tội lừa dối khách hàng. luan an 11 + Nhóm tội phạm dùng tiền làm phương tiện phạm tội, như: Tội đánh bạc; tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. + Nhóm tội phạm khác: đây là một số tội tuy không thuộc hai trường hợp trên nhưng nhà làm luật thấy rằng cần thiết áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với người phạm tội nhằm đạt được tối đa mục đích của hình phạt, như: Tội gây rối trật tự công cộng; tội hành nghề mê tín dị đoan; tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy; tội vi phạm qui chế về khu vực biên giới; tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép.
+ Pháp nhân thương mại phạm tội. Ngoài ra để quyết định áp dụng phạt tiền là hình phạt chính thì phải căn cứ theo qui định chung tại Điều 50 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: 1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào qui định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự 2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Toà án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội [36].
Một điều kiện không thể bỏ qua khi quyết định áp dụng phạt tiền là hình phạt chính là điều kiện kinh tế của người phạm tội phải có khả năng thực hiện nộp một khoản tiền nhất định theo hình thức một lần hay nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định. Phạt tiền còn được áp dụng là hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt Việt Nam. Tại Khoản 2 Điều 35 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 qui định căn cứ để áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung như sau: “2. Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này qui đinh” [36].
luan an 12 Khoản 2 Điều 33 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội: ‘‘2. Hình phạt bổ sung bao gồm: Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính” [36] Trong tổng số 318 điều luật qui định về tội phạm cụ thể, số điều luật qui định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung có 126/318 chiếm tỷ lệ 39,6%. Phạt tiền được qui định là hình phạt bổ sung cho các nhóm tội phạm sau: + Nhóm tội phạm về tham nhũng, như: Tội tham ô; tội nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ. + Nhóm tội phạm về ma túy, như: Tội trồng cây thuốc phiện, cây cooca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.
+ Nhóm tội phạm khác: Đây là một số tội tuy không thuộc hai trường hợp trên nhưng nhà làm luật thấy rằng cần thiết áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội nhằm đạt được tối đa mục đích trừng trị người phạm tội và mục đích phòng chống tội phạm, như: tội mua bán người; tội mua bán người dưới 16 tuổi; tội đánh tráo người dưới 01 tuổi; tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; tội vu khống và một số tội phạm về xâm phạm sở hữu. + Pháp nhân thương mại phạm tội. Để áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung thì Tòa án còn căn cứ vào qui định chung tại Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điểm khác biệt so với trường hợp áp dụng phạt tiền là hình phạt chính thì khi áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung, điều kiện kinh tế của người phạm tội không phải là điều kiện bắt buộc để áp dụng.
Khái niệm hình phạt tịch thu tài sản và căn cứ áp dụng hình phạt tịch thu tài sản - Khái niệm: Theo quy định tại Điều 45 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: luan an 13 “Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước” [36]. Tịch thu tài sản là biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc về mặt kinh tế. So sánh với các hình phạt chính không tước quyền tự do và cả với một số hình phạt bổ sung khác thì hình phạt tịch thu tài sản còn nghiêm khắc hơn rất nhiều.