phần mở đầu hoặc ngoại lệ của các điều khoản trong các IIAs. Tuy nhiên, khi phân tích, so sánh các phần nội dung này của các HAs thế hệ đầu và IIAs thế hệ mới, ta thấy rõ xu hướng ngày càng có sự mở rộng phạm vi nghĩa vụ nhà đầu tư. Điều này bắt nguồn từ một vài lý do cụ thẻ. Lý do trực tiếp Nguyên nhân trực tiếp của xu hướng đưa ra quy định về nghĩa vụ của nhà đầu tư vào các IIAs là do yêu cầu của pháp luật ở nhiều quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, EU, Canada, New Zealand đối với các vấn đề về lợi ích công cộng.
Cụ thể, Đạo Luật Thúc Đây Thương Mại Bipartisan Hoa Kỳ (TPA) năm 2002 là một đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ đã đề cập đến việc phải đồng thời bảo vệ "mục tiêu thương mại" và "mục tiêu môi trường”. Điều này có nghĩa là các nhà đàm phán thương mại nên cân nhắc các tác động môi trường khi tham gia thỏa thuận ký kết hiệp dinh thuong mai (“.to ensure that trade and environmental policies are mutually supportive and to seek to protect and preserve the environment and enhance the international means of doing so, while optimizing the use of the world's resources”). Dao luat cing yéu cầu rằng 2! Cabo Verde— Hungary BIT (2019) Điều 3.1; Nhat Ban— Mozambique BIT (2013), Diéu 18 (d). ?? Canada — EU CETA (2016) Điều 8.9, Hiệp định đầu tư giữa Australia và Hong Kong (2019) Điều 18 (1) (a).
23 Cabo Verde — Hungary BIT (2019) Diéu 3.1; Canada — EU CETA (2016) Diéu 8.9; Sri Lanka — Singapore FTA (2018) Diéu 10. 19 các hiệp định quốc tế phải tuân thủ các tiêu chuẩn lao động và môi trường của pháp luật Hoa Kỳ. Ngoài ra, theo Hiệp định Lisbon (Lisbon Treaty) năm 2009 quy định về việc EU có thâm quyền đàm phán và ký kết IIAs, đưa ra hướng dẫn đối với việc đàm phán IIAs phải bao gồm các điều khoản về nghĩa vụ nhà đầu tư, bao gồm trách nhiệm đối với môi trường, lao động và nhân quyền. Trên thực tế, các quốc gia như Hoa Kỳ, EU, Canada, New Zealand là các quốc gia bị kiện ra trọng tài quốc tế nhiều nhất từ trước đến nay, trong khi cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước bằng phương thức trọng tài đầu tư quốc tế là cơ chế “một chiều”, tức chỉ có nhà đầu tư kiện Nhà nước nhằm mục đích bảo vệ các quyền lợi của mình trước các hành vi của Nhà nước, chứ không ngược lại.
Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi các quốc gia này mong muốn đưa các quy định về nghĩa vụ nhà đầu tư vào hiệp định đầu tư quốc tế nhằm viện dẫn các quy định đó trong các yêu cầu phản tố chống lại nhà đầu tư. Lý do gián tiếp a. Bao vệ quyên và lợi ích chính đáng của quốc gia sé tại Như đã phân tích ở phần 1.1, IAs chính là nền tảng pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động đầu tư xuyên biên giới. Hầu hết các IIAs thế hệ đầu đều được ra đời nhằm mục đích bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài, bắt nguồn từ thông lệ trước đây của pháp luật đầu tư quốc tế là nó được ra đời từ việc mở rộng bảo hộ ngoại giao đối với người nước ngoài và hạn chế việc đối xử không công bằng đối với các nhà đầu tu?>.
Các chuyên gia trước đây vẫn thường quan niệm nhà đầu tư là bên yếu thế hơn nhiều, cần thiết được bảo vệ bằng các biện pháp ?* Điều 3 Hiệp dinh Lisbon (2009).Sornarajah (2017), The International Law on Foreign Investment, Cambridge University Press, tr. 20 chính đáng. Vì vậy, việc ký kết các IIAs sẽ chỉ làm phát sinh nghĩa vụ bảo hộ của quốc gia, không làm phát sinh nghĩa vụ nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc trao cho nhà đầu tư quá nhiều quyền lợi mà không quy định nghĩa vụ cụ thể như vậy đã dẫn tới mất cân bằng trong pháp luật đầu tư quốc tế, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của quốc gia.
Một trong những quyền năng quan trọng nhất của mỗi quốc gia là quyền ban hành, áp dụng và duy trì những quy định, chính sách đề điều chỉnh các vấn đề Kinh tế - xã hội, được coi là một phần của chủ quyền quốc gia và được thừa nhận trong pháp luật quốc tế”5. Trong khi đó việc thực hiện các nghĩa vụ bảo hộ đối với khoản đầu tư và nhà đầu tư sẽ có khả năng làm hạn chế quyền năng này của quốc gia. Bên cạnh đó, trong khi trọng tâm ban đầu của các IIAs là bảo vệ chống lại việc tước quyền sở hữu bất hợp pháp, thì đến nay các nhà đầu tư nước ngoài đang sử dụng IIAs đề thách thức một loạt các chính sách, luật lệ của nước tiếp nhận đầu tư, bao gồm cả lĩnh vực môi trường hay sức khỏe cộng đồng. Thời gian vừa qua đã có minh chứng cho thấy một số hành vi của nhà đầu tư đã góp phần gây hại tới lợi ích của nước tiếp nhận đầu tư, ví dụ như: thảm họa Bhopal tại Án Độ khiến hàng chục nghìn người tử vong và hậu quả còn lưu lại suốt 25 năm sau (M.
Peterson, 2009); vụ vụ rò rỉ khí độc tại nhà máy LG Polymers (PTI, 2020); vi phạm quyền của người bản địa Hoa Kỳ (UNCITRAL Ad Hoc Tribunal, 2009; ICSID Case No. Đối với Việt Nam, các vụ việc gây ô nhiễm môi trường của nhà đầu tư nước ngoài có thể kê đến như Công ty Vedan xả thải ra sông Thị Vải, hay Tập đoàn Formosa làm ô nhiễm nguồn nước biển (Tran Viet Dung, Ngo Nguyen Thao Vy, 2017)”. Vì vậy, nhiều nỗ 26 Surya P.Subedi (2008), International Investment Law — Reconciling Policy and Principle, Hart Publishing, Oregin, tr. ?? Ngô Trọng Quân, Ngô Thảo Ngân (2021), Tái cân bằng quyên và nghĩa vụ nhà dau tir nước ngoài trong bồi cảnh bảo vệ lợi ích công cộng, Kỷ yêu Hội thảo khoa học dé tài Bảo vệ lợi ích công cộng trong Luật Đâu tư quốc tế: Thực tiễn giải quyết tranh chấp và kinh nghiệm cho Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Pháp luật Thương mại quốc tế.
21 lực đã được thực hiện đề đưa nghĩa vụ của nhà đầu tư vào IIAs trong thời gian vừa qua. Thúc đây phát triển bền vững Hiện nay, phát triển bền vững (Sustainable Development) đang trở thành mục tiêu hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Năm 1987, tại Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED), đã lần đầu tiên đề cập tới thuật ngữ phát triển bền vững, được định nghĩa là “phat trién để đáp ứng những nhu câu của thế hệ hiện tại mà không làm tồn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu ấy của thế hệ tương lai”. Tới năm 2002, Theo Bản Tuyên bố Johannesburg, định nghĩa phát triển bền vững được mở rộng, trở thành chiến lược chung toàn cầu, là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt bao gồm: phát triển kinh tế (tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cần thận chất lượng môi trường, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên.
Trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nếu bỏ lỡ bắt kỳ một “trụ cột” nào trong ba “trụ cột” kinh tế, xã hội, môi trường đều làm con tàu hướng tới phát triển bền vững bị trật khỏi đường ray của nó. Thương mại quốc tế nói chung và đầu tư quốc tế nói riêng được coi như một công cụ gây ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện hóa mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals ~ SDG) của các quốc gia. Cụ thé 1a một số hành vi sai trái đến từ các nhà đầu tư có thể gây ô nhiễm môi trường như xả thải độc hại, khai thác tài nguyên trái phép, phá rừng (Ví dụ: Sự cố Formosa tại Việt Nam: Xa thai trai phép gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng) hay van dé về bóc lột lao động như lương thấp, điều kiện làm việc tồi tệ, vi phạm quyền lợi người lao động. Chính vì vậy mà việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài không còn là ưu tiên số một mà thay vào đó là xu thế thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất 22 lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu, từ đó đặt ra yêu cầu về việc đưa các quy định về nghĩa vụ của nhà đầu tư vào các IIAs.
Ở thời điểm hiện tại, nhiều tổ chức đã kêu gọi về việc tái cân bằng luật đầu tư quốc tế thông qua áp đặt nghĩa vụ đối với các nhà đầu tư. Các tô chức quốc tế như UNCTAD, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Viện Quốc tế về Phát triển Bền vững (IISD) đã có nhiều nghiên cứu về nghĩa vụ của nhà đầu tư và lộ trình quy định nghĩa vụ nhằm cân bằng với lợi ích của Nhà nước (UNCTAD, 2015; OECD, 2020; IISD, 2018)”*. *8 Ngô Trọng Quân, Ngô Thảo Ngân (2022), Quy định về nghĩa vụ của nhà đâu tư nước ngoài trong các hiệp định đâu tư quốc tế, Tạp chí khoa học Việt Nam. 23 Tiểu kết Chương 1 Từ việc nghiên cứu các vấn đề tong quan về hiệp định đầu tư quốc tế và nghĩa vụ nhà đầu tư quốc tế, có thể rút ra những kết luận sau: 1.
Pháp luật đầu tư quốc tế ra đời điều chỉnh mối quan hệ giữa Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài — đây được coi là một mối quan hệ không cân bằng. Vì vậy, luật đầu tư quốc tế luôn điều chỉnh mối quan hệ trên theo hướng bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư nước ngoài. Các hiệp định đầu tư quốc tế là các thỏa thuận giữa các nước điều chỉnh nhiều vấn đề liên quan đến đầu tư quốc tế, bao gồm FDI. Đây là các công cụ quan trọng mang tính chất ràng buộc, có nội dung tập trung vào vấn đề đãi ngộ, xúc tiễn và nghĩa vụ bảo hộ, tự do hóa đầu tư của Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, nhằm thực thi mục tiêu của luật đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động đầu tư quốc tế đã và đang dần cho thây những tác động tiêu cực phát sinh từ hành vi sai trái của nhà đầu tư đối với kinh tế, xã hội và môi trường quốc gia tiếp nhận đầu tư.