phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý công ty. Chƣơng 2: Thực trạng quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam và thực tiễn thực hiện. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện nghĩa vụ của người quản lý công ty ở Việt Nam. 12 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI QUẢN LÝ CÔNG TY 1.
Khái quát về ngƣời quản lý công ty và nghĩa vụ của ngƣời quản lý công ty 1. Khái niệm và đặc điểm của người quản lý công ty Quản lý công ty1 được hiểu là quá trình bộ máy công ty đặt mục tiêu, kế hoạt và nỗ lực đạt được mục tiêu kế hoạch đó thông qua việc tác động lên hành vi của các nhân viên dưới quyền. Quản lý công ty được thể hiện thông qua các chức năng như: (i) Hoạch định chính sách; (ii) Tổ chức triển khai việc thực hiện chính sách đã được hoạch định; (iii) Lãnh đạo và chỉ huy các cá nhân, tập thể tham gia quá trình thực hiện chính sách; (iv) Kiểm soát quá trình thực hiện chính sách. Kiểm soát là quá trình trong đó các hành động được thực hiện để đảm bảo rằng, các mục tiêu về tổ chức và quản lý được thực hiện.
Dưới góc độ quản lý, quản lý công ty được chia thành ba cấp độ: - Quản lý cấp cao là quản lý toàn diện trên tất cả các vấn đề và lĩnh vực của doanh nghiệp. “Các nhà quản lý cấp cao luôn giữ vai trò chiến lược, có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp”2. - Quản lý cấp trung là quản lý ở cấp phòng, ban chuyên môn, các bộ phận hoạt động như chi nhánh, văn phòng đại diện. Quản lý cấp trung có thể được chia thành nhiều cấp trung gian khác nhau, tùy thuộc vào từng công ty.
1 Quản lý công ty được hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động trực tiếp quản lý công ty không bao hàm hoạt động gián tiếp quản lý công ty của cổ đông công ty cổ phần thông qua ĐHĐCĐ, thành viên công ty TNHH nhiều thành viên thông qua HĐTV, chủ sở hữu công ty TNHH mộ t thành viên, thành viên góp vốn của công ty hợp danh. Vũ Thành Hưng (2012), Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về quản trị doanh nghiệp (Tài liệu dành cho đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa), Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tr. 13 - Quản lý cấp thấp còn được gọi là quản lý cấp cơ sở, đây là cấp quản lý việc thực hiện các công việc chuyên môn, cụ thể diễn ra hàng ngày của người lao động. Những người có vị trí quản lý cấp này thường là trưởng nhóm, đội trưởng,.
Về lý thuyết, người có chức danh quản lý trong công ty là người nắm giữ một vị trí quản lý với tên gọi cụ thể và gắn với vị trí quản lý đó, có thẩm quyền ra quyết định hoặc tham gia ra quyết định quản lý. Quyết định quản lý là hành vi ấn định một hoặc một số giải pháp, phương án để giải quyết một hay một số vấn đề về quản lý công ty, như thông qua kế hoạch sản xuất, kinh doanh của công ty, quyết định tăng vốn bằng việc chào bán trái phiếu hoặc cổ phiếu, quyết định giao kết hợp đồng trong kinh doanh. Các hoạt động nhân danh công ty xác lập quyền và nghĩa vụ của công ty cũng là những hoạt động mang tính quản lý. Các hoạt động như xây dựng các bản dự thảo, chuẩn bị tài liệu, thông tin, đưa ra ý kiến tư vấn, ý kiến bình luận độc lập hoặc các hoạt động có tính chất hỗ trợ, hành chính khác không được coi là hoạt động ra quyết định quản lý.
Trong bộ máy quản lý của công ty, đương nhiên, những người có chức danh quản lý công ty thì vai trò quan trọng hơn những người có chức danh quản lý khác. Sự quan trọng của họ được phản ánh thông qua thẩm quyền ra hoặc tham gia ra các quyết định quản lý quan trọng. Vì vậy, họ phải tuân theo những tiêu chuẩn khắt khe hơn về bổn phận và trách nhiệm so với những cá nhân khác trong công ty. Do đó, cần thiết phải xây dựng các tiêu chí để xác định được những cá nhân nắm giữ chức danh quản lý nào là người quản lý công ty.
Người đại diện của công ty cũng có thể là người quản lý công ty. Người đại diện của công ty có thể đại diện theo hai hình thức là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của công ty là người có tư cách đại diện đương nhiên cho công ty theo điều lệ của công ty 14 hoặc theo quy định của pháp luật. Về nguyên tắc, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của pháp nhân, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác 3.
Người đại diện theo ủy quyền là trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho một hoặc nhiều người thực hiện một hoặc một số công việc của pháp nhân4. Thực tiễn hoạt động của công ty cho thấy, tư cách đại diện theo ủy quyền có thể được xác lập trên cơ sở người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho cá nhân khác thực hiện quyền, nghĩa vụ nhất định. Việc ủy quyền có thể được xác lập theo hình thức văn bản ủy quyền, quyết định bổ nhiệm, hợp đồng lao động, quyết định giao việc, phân công công việc,. Như vậy, người đại diện theo ủy quyền cần được hiểu rộng là một người tuy không được pháp luật thừa nhận có tư cách đại diện theo pháp luật, nhưng trên cơ sở quan hệ lao động hoặc quan hệ giao việc với công ty mà người này có quyền nhân danh công ty ra một quyết định nhất định trong phạm vi đại diện.
Phạm vi đại diện sẽ phụ thuộc vào vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của người được ủy quyền. Tuy nhiên, trong thực tiễn, vẫn có trường hợp một người mặc dù không có chức danh quản lý trong công ty, nhưng do được giao nhiệm vụ, nên họ có tư cách đại diện theo ủy quyền cho công ty trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Trên thức tế, có thể dựa vào một số tiêu chí để xác định người quản lý công ty, như tiêu chí về kinh tế. Đây là tiêu chí xác định tư cách người quản lý công ty theo khía cạnh kinh tế, tức là dựa vào tính quan trọng của một vị trí quản lý trong tổ chức mà một người đang nắm giữ để xác định xem người đó có cần thiết được xếp vào nhóm người quản lý công ty hay không.
Tính quan trọng của vị trí quản lý được phản ánh qua thẩm quyền ra các quyết định quan 3 Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, PGS. Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2010), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr. 4 Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, PGS. Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2010), Sđd, tr.
Như Mark Byrne phân tích: “Ngoài thành viên HĐQT, người quản lý công ty cổ phần được mở rộng đến những người tham gia hình thành quyết định tác động đến toàn bộ hoặc một bộ phận đáng kể của hoạt động kinh doanh của công ty hoặc tác động đến tình trạng tài chính của công ty” 5. Quan điểm này rất đúng với công ty cổ phần và cũng có thể được sử dụng để xác định người quản lý công ty hợp danh và người quản lý công ty TNHH. Trong công ty hợp danh, ngoài thành viên hợp danh, có thể có người khác tham gia hình thành các quyết định quan trọng. Vấn đề là cần làm rõ thêm những quyết định nào được coi là những “quyết định tác động đến toàn bộ hoặc một bộ phận đáng kể của hoạt động kinh doanh của công ty; hoặc có khả năng tác động đáng kể đến tình trạng tài chính của công ty”.
Quyết định quản lý quan trọng là các quyết định giải quyết các vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động của công ty. Thông thường các vấn đề sau được coi là vấn đề quan trọng của công ty: (i) Mục tiêu, chiến lược và kế hoạch kinh doanh của công ty; (ii) Cơ cấu, tổ chức, bộ máy quản lý của công ty; (iii) Cấu trúc vốn của công ty, huy động vốn, sử dụng vốn được huy động; (iv) Đầu tư, góp vốn, hợp tác kinh doanh; (v) Các giao dịch có giá trị lớn; (vi) Người có chức danh quản lý trong công ty; (vii) Kiểm soát tài chính của công ty; (viii) Điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng ngày của công ty; (ix) Giám sát việc thực thi các chính sách tài chính, kinh doanh của công ty. Như vậy, việc xác định như thế nào được coi là “quyết định tác động đến toàn bộ hoặc một bộ phận đáng kể của hoạt động kinh doanh của công ty; hoặc có khả năng tác động đáng kể đến tình trạng tài chính của công ty” cần được dành cho điều lệ của công ty xác định. Trong trường hợp điều lệ công ty không xác định rõ, thì Tòa án sẽ dựa vào tập quán hoặc nguyên tắc quản trị chung để xác định “một quyết định tác động đến toàn bộ hoặc một bộ phận 5 Mark Byrne (2006), The duties and liabilities of persons below board level, Canberra Law Review Vol.
16 đáng kể của hoạt động kinh doanh của công ty; hoặc có khả năng tác động đáng kể đến tình trạng tài chính của công ty”. Nếu theo cơ chế quản lý tập trung, các vấn đề quan trọng sẽ thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan quản lý trung tâm như: Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc. Tuy nhiên, ngày nay, các công ty đều có xu hướng quản lý phi tập trung. Xu hướng chung là các doanh nghiệp đang tăng thêm quyền hạn và trách nhiệm cho cấp thấp hơn thông qua hình thức phân cấp, giao quyền hoặc ủy quyền6.
Như vậy, sẽ có một số người có chức danh quản lý không phải là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc, nhưng có thẩm quyền ra quyết định quản lý quan trọng và họ có thể được coi là người quản lý công ty.