Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế đã làm phát sinh các giao lưu dân sự ngày càng đa dạng, kéo theo số lượng tranh chấp dân sự gia tăng nhanh chóng về quy mô lẫn mức độ phức tạp. Theo "Báo cáo tổng kết công tác năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2024 của các Tòa án" số 167/BC-TA của Tòa án nhân dân tối cao, trong năm 2023, hệ thống Tòa án đã thụ lý 606.209 vụ việc các loại; trong đó, nhóm vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động chiếm tới 468.828 vụ việc (chiếm tỷ lệ 77,34%), tăng đáng kể so với năm 2022. Thực tế này đòi hỏi các vụ việc dân sự phải được giải quyết nhanh chóng, chính xác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể và duy trì trật tự pháp luật. Trong quy trình tố tụng dân sự, chứng minh là hoạt động trọng tâm mang tính chi phối bản chất phán quyết. Kế thừa Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), BLTTDS năm 2015 đã chuyển giao căn bản gánh nặng chứng minh sang các bên đương sự, xác lập nguyên tắc đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ, còn Tòa án chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong những trường hợp luật định. Tuy nhiên, sau thời gian áp dụng thực tế từ ngày 01/07/2016, các quy định này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: đương sự gặp khó khăn trong việc tiếp cận tài liệu do chủ thể khác nắm giữ, nhiều quy phạm chưa đồng bộ và nhận thức pháp luật của người tham gia tố tụng còn chênh lệch. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện nghĩa vụ chứng minh của đương sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể thông qua 3 nhiệm vụ chính:
- Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến nghĩa vụ chứng minh của đương sự và chỉ ra những điểm mới, điểm hạn chế, bất cập của BLTTDS về nghĩa vụ chứng minh của đương sự.
- Chỉ ra những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS về nghĩa vụ chứng minh của đương sự.
- Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về các quy định liên quan đến nghĩa vụ chứng minh của đương sự.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của BLTTDS hiện hành về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào các quy định của BLTTDS năm 2015 điều chỉnh nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và thực tiễn thi hành các quy định này.
- Về không gian: Giới hạn trong phạm vi tố tụng dân sự Việt Nam, không nghiên cứu mở rộng sang hệ thống tố tụng dân sự của các quốc gia khác.
- Về thời gian: Đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về nghĩa vụ chứng minh từ ngày 01/07/2016 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2024).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và nền tảng pháp lý của đề tài được xây dựng dựa trên nguyên tắc hiến định tại Khoản 1 Điều 15 Hiến pháp năm 2013 ("Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân"), các nguyên lý cơ bản của luật tư (quyền tự định đoạt, bình đẳng pháp lý) và mối quan hệ biện chứng giữa luật nội dung với luật hình thức. Khóa luận khai thác trực tiếp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định gồm:
- BLTTDS năm 2015 (trọng tâm là Điều 6, Điều 68, Điều 70, Điều 85, Điều 86, Điều 91, Điều 92, Điều 95, Điều 96, Điều 97, Điều 106, Điều 147, Điều 187, Điều 189, Điều 199, Điều 247, Điều 272, Điều 274, Điều 287, Điều 302, Điều 330) và các quy định tương ứng của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
- Các đạo luật nội dung có điều khoản chuyển dịch nghĩa vụ chứng minh: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ luật Lao động, Khoản 4 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022).
- Các văn bản quy định giá trị chứng cứ điện tử: Khoản 4, Khoản 6 Điều 3, Điều 8, Điều 11 Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
- Các văn bản lịch sử: Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật), Quốc triều khám tụng điều lệ, Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long năm 1802), Thông tư số 141-HCTP ngày 05/12/1957 của Bộ Tư pháp, Thông tư số 06-TATC ngày 25/02/1974 của Tòa án nhân dân tối cao, Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 ngày 07/12/1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ).
Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp thu thập số liệu và toán học: Khai thác dữ liệu thống kê từ Báo cáo số 167/BC-TA của Tòa án nhân dân tối cao về số lượng 606.209 vụ việc Tòa án thụ lý trong năm 2023, phân loại 468.828 vụ việc thuộc các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và tính toán tỷ lệ cơ cấu 77,34%.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các yếu tố cấu thành của nghĩa vụ chứng minh, làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và tổng hợp hệ thống luận điểm lý luận về cơ sở khoa học của chế định.
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu tiến trình lập pháp điều chỉnh hoạt động chứng minh qua 4 giai đoạn lịch sử: thời kỳ phong kiến trước năm 1945, giai đoạn 1945 - 1989, giai đoạn 1990 - 2004 và giai đoạn từ năm 2004 đến nay.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy phạm giữa BLTTDS năm 2015 và BLTTDS năm 2004 về phân định quyền - nghĩa vụ giao nộp chứng cứ, việc ấn định thời hạn chứng minh và các quy định về đối tượng không phải chứng minh.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm giáo trình chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, các công trình luận văn thạc sĩ chuyên khảo, các bài báo khoa học trên Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp và hồ sơ vụ việc thực tế tại Tòa án nhân dân cấp quận trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự. Khóa luận định nghĩa nghĩa vụ chứng minh là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng bắt buộc phải tuân theo quy định của pháp luật trong việc làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự. Hoạt động này không chỉ bó hẹp ở việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ mà còn bao hàm việc đưa ra các căn cứ pháp lý, lý lẽ, lập luận nhằm thuyết phục Tòa án công nhận tính hợp pháp của yêu cầu hoặc sự phản đối.
Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh bao gồm đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập), người đại diện của đương sự, và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện bảo vệ quyền lợi cho người khác, lợi ích công cộng hoặc lợi ích Nhà nước. Khóa luận phân biệt rạch ròi nhóm chủ thể này với các chủ thể tham gia vào hoạt động chứng minh (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản). Hoạt động chứng minh của Tòa án chủ yếu phục vụ cho việc làm rõ căn cứ ra quyết định và hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong phạm vi luật định.
Đặc điểm cốt lõi của nghĩa vụ chứng minh gồm: tính trật tự và tính bắt buộc nghiêm ngặt; phát sinh từ thời điểm đương sự nộp đơn khởi kiện/yêu cầu và kéo dài xuyên suốt các giai đoạn tố tụng cho đến khi có phán quyết giải quyết vụ việc; nghĩa vụ thuộc về các bên tranh chấp chứ không thuộc về cơ quan nhà nước (khác biệt căn bản với tố tụng hình sự - nơi trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng). Đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết, sự kiện liên quan cần làm rõ; tuy nhiên, Điều 92 BLTTDS năm 2015 loại trừ nghĩa vụ chứng minh đối với: những sự kiện rõ ràng mọi người đều biết và Tòa án thừa nhận; tình tiết đã được xác định trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; tình tiết đã ghi trong văn bản công chứng, chứng thực hợp pháp.
| Thời kỳ lịch sử |
Văn bản điều chỉnh tiêu biểu |
Đặc điểm quy định về nghĩa vụ chứng minh |
| Trước năm 1945 (Phong kiến & Thuộc Pháp) |
- Bộ luật Hồng Đức (Điều 668, Điều 714) - Quốc triều khám tụng điều lệ (Điều 2 gồm 31 điều lệ) - Hoàng Việt luật lệ (1802) - Bộ dân sự tố tụng Nam Kỳ (1910), Bắc Kỳ (1917, 1921) |
Quy định chứng cứ mang tính tản mạn, gắn liền với án hình sự. Lần đầu ghi nhận nghĩa vụ xuất trình văn khế, sinh lễ, văn tự khi đi kiện trong Quốc triều khám tụng điều lệ. Thời Pháp thuộc có quy định bên nại ra sự việc phải dẫn chứng. |
| Giai đoạn 1945 - 1989 |
- Thông tư số 141-HCTP (1957) - Thông tư số 06-TATC (1974) |
Đương sự có quyền đề xuất và trình bày lý lẽ, nhưng việc điều tra, xác minh, lập hồ sơ chứng cứ là nhiệm vụ trung tâm của Tòa án; gánh nặng chứng minh đặt lên vai Tòa án. |
| Giai đoạn 1990 - 2004 |
- PLTTGQCVADS (1989) - PLTTGQCVAKT (1994) - PLTTGQCTCLĐ (1996) |
Quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, song vẫn duy trì thủ tục Tòa án điều tra vụ việc; thiếu chế tài bảo đảm đương sự bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ. |
| Giai đoạn 2004 đến nay |
- BLTTDS năm 2004 (sửa đổi 2011) - BLTTDS năm 2015 |
Bỏ chế định Tòa án điều tra vụ án; chuyển căn bản nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ sang đương sự; Tòa án chỉ hỗ trợ trong trường hợp luật định; xác lập chi tiết hậu quả pháp lý và các ngoại lệ miễn chứng minh. |
Cơ sở khoa học để thiết kế chế định này xuất phát từ 4 yếu tố: nguyên tắc quyền đi đôi với nghĩa vụ (Điều 15 Hiến pháp năm 2013); yếu tố lợi ích cá nhân là động lực thúc đẩy các bên tự bảo vệ quyền lợi; sự tương thích giữa luật hình thức và bản chất tự do thỏa thuận, tự định đoạt của luật tư nội dung; và ưu thế thực tế của đương sự với tư cách người trong cuộc, nắm giữ và hiểu rõ nguồn gốc tài liệu, tình tiết tranh chấp.
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự
Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy phạm hiện hành của BLTTDS năm 2015. Về mặt kỹ thuật lập pháp, Khoản 1 Điều 6 đã sửa đổi cụm từ "Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ" (của BLTTDS năm 2004) thành "Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ", đặt đương sự vào trạng thái trách nhiệm cao hơn. Khoản 1 Điều 97 liệt kê 7 biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự:
- Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử (tuân thủ Điều 95 BLTTDS và các quy định về tính nguyên vẹn, độ tin cậy tại Điều 3, Điều 8, Điều 11 Luật Giao dịch điện tử năm 2023).
- Thu thập vật chứng (hiện vật gốc kèm biên bản mô tả tính chất lý hóa, hoặc lập vi bằng, yêu cầu thẩm định tại chỗ).
- Xác định và lấy lời khai của người làm chứng.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu họ đang lưu giữ trong thời hạn 15 ngày (Khoản 1 Điều 106).
- Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng.
- Yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không tự thu thập được (Khoản 2 Điều 97).
- Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản hoặc tự mình yêu cầu giám định trước khi mở phiên họp giải quyết vụ án.
Khóa luận chỉ rõ bất cập của Điều 91 BLTTDS năm 2015: tên điều luật là "Nghĩa vụ chứng minh" nhưng nội dung mới dừng lại ở việc thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ, chưa thể hiện đầy đủ các khâu nghiên cứu, đánh giá, tranh luận và lập luận pháp lý. Để bảo vệ bên yếu thế, Khoản 1 Điều 91 thiết lập cơ chế đảo ngược/chuyển dịch nghĩa vụ chứng minh: người tiêu dùng không phải chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh (chỉ cần chứng minh hành vi và thiệt hại thực tế); người lao động không phải cung cấp chứng cứ do người sử dụng lao động nắm giữ và người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm chứng minh trong vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật; vụ kiện xâm phạm quyền sáng chế đối với quy trình sản xuất sản phẩm mới thì bị đơn phải chứng minh sản phẩm của mình sản xuất theo quy trình khác (Khoản 4 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ).
Xét theo tiến trình tố tụng, nghĩa vụ chứng minh được cụ thể hóa qua từng giai đoạn:
- Giai đoạn thụ lý, xét đơn: Người khởi kiện phải nộp tài liệu kèm đơn khởi kiện (Khoản 5 Điều 189); bị đơn và người liên quan phải nộp ý kiến bằng văn bản cùng tài liệu phản đối hoặc yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận thông báo thụ lý (Điều 199).
- Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm: Khoản 4 Điều 96 khống chế thời hạn giao nộp chứng cứ do Thẩm phán ấn định nhưng không quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Điểm hạn chế là Thẩm phán các Tòa án ấn định thời hạn không thống nhất; thiếu quy định xử lý khi đương sự nộp vượt mốc Thẩm phán định nhưng vẫn nằm trong thời hạn chuẩn bị xét xử; nguy cơ làm triệt tiêu ý nghĩa phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nếu ấn định thời hạn sau phiên họp này. Tại phiên tòa sơ thẩm, nghĩa vụ chứng minh đạt đỉnh điểm qua hoạt động tranh tụng (Điều 247).
- Giai đoạn phúc thẩm: Người kháng cáo gửi tài liệu bổ sung (Khoản 8 Điều 272). Tòa án cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận chứng cứ mới theo Điều 287 (có lý do chính đáng hoặc Tòa sơ thẩm không yêu cầu/đương sự không thể biết). Khóa luận đối chiếu hai luồng quan điểm: quan điểm thứ nhất đòi hỏi hủy án sơ thẩm nếu nộp chứng cứ muộn không có lý do chính đáng và buộc đương sự chịu chi phí kéo dài vụ án; quan điểm thứ hai chỉ chấp nhận chứng cứ có lý do chính đáng và bác chứng cứ muộn tùy tiện.
- Giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm: Đương sự không có quyền kháng cáo mà chỉ có quyền đề nghị kháng nghị, đồng thời được cung cấp tài liệu mới chưa được cấp dưới yêu cầu hoặc không thể biết theo Khoản 1 Điều 330.
Về chủ thể khởi kiện đặc biệt: khi cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước, họ tham gia với tư cách nguyên đơn (Khoản 2 Điều 68, Điều 187); khi khởi kiện bảo vệ lợi ích người khác, họ tham gia với tư cách người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Khoản 2 Điều 68, Khoản 2 Điều 85, Điều 86). Hậu quả pháp lý khi không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ là Tòa án giải quyết theo tài liệu hiện có trong hồ sơ (Khoản 4 Điều 91, Khoản 1 Điều 96); nếu không chứng minh được, đương sự đối mặt nguy cơ bị bác đơn, bác yêu cầu và phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm (Khoản 1 Điều 147).
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự. Kiến nghị hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật
Khóa luận chỉ ra thực trạng áp dụng pháp luật còn gặp nhiều rào cản nghiêm trọng. Bất cập hàng đầu là đương sự gặp khó khăn lớn trong việc tự thu thập chứng cứ khi đương sự đối kháng cố tình che giấu thông tin do sợ bất lợi. Khi đương sự gửi yêu cầu theo Khoản 1 Điều 106, các cơ quan, tổ chức nắm giữ tài liệu thường thờ ơ, không phản hồi hoặc chỉ từ chối bằng lời nói mà không ban hành văn bản, khiến đương sự không có căn cứ chứng minh để đề nghị Tòa án can thiệp.
Khoảng trống pháp lý lớn nhất phát sinh ngay ở giai đoạn trước khi thụ lý vụ án. Theo luật định, Tòa án chỉ hỗ trợ thu thập chứng cứ sau khi đã thụ lý vụ án. Nếu người nộp đơn không thể tự cung cấp tài liệu theo thông báo sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện, họ đối mặt nguy cơ bị trả lại đơn. Khóa luận chứng minh bằng vụ việc thực tế: ngày 25/11/2016, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân tiếp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Hợi về tranh chấp quyền sử dụng đất và tiền đền bù giải phóng mặt bằng với bị đơn là ông Nguyễn Hữu Chiến và bà Hoàng Thị Hằng Nga. Ngày 02/12/2016, Thẩm phán ban hành Thông báo sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện số 115/TB-TA, yêu cầu ông Hợi cung cấp bản sao hợp lệ chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn và văn bản xác nhận nơi cư trú của bị đơn. Vụ việc rơi vào bế tắc do:
- Ông Chiến và bà Nga bất hợp tác, không cung cấp giấy tờ cá nhân.
- Công an phường Khương Mai (quận Thanh Xuân) từ chối xác nhận nơi cư trú theo đơn của ông Hợi, tuyên bố chỉ xác nhận khi có yêu cầu bằng văn bản của Tòa án; trong khi đó, do chưa thụ lý nên Tòa án chưa thể ban hành văn bản hỗ trợ thu thập chứng cứ.
Bên cạnh đó, hiểu biết pháp luật hạn chế của người dân khiến họ nhầm lẫn giữa quyền và nghĩa vụ, dẫn đến việc thụ động, không giao nộp chứng cứ đúng thời hạn hoặc làm mất tính nguyên vẹn của thông điệp dữ liệu điện tử.
Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ cả ba phương diện: nguyên nhân lập pháp (chưa có văn bản quy định tiêu chí "lý do chính đáng" tại Khoản 4 Điều 96 và Điều 287; chế tài xử phạt cơ quan chậm trễ cung cấp tài liệu theo Điều 106 thiếu tính khả thi); nguyên nhân từ ý thức pháp luật của người dân; và nguyên nhân từ phía cơ quan tiến hành tố tụng (Thẩm phán áp dụng thời hạn giao nộp chứng cứ thiếu thống nhất).
Để tháo gỡ khó khăn, khóa luận đề xuất hai nhóm giải pháp:
- Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải thích cụ thể tiêu chí "lý do chính đáng" cho phép nộp chứng cứ bổ sung muộn tại Điều 96 và Điều 287.
- Sửa đổi Điều 91 BLTTDS năm 2015 theo hướng bổ sung các hành vi tố tụng thuộc nghĩa vụ chứng minh (nghiên cứu, đánh giá, lập luận tại phiên tòa).
- Bổ sung quy định cho phép Thẩm phán ban hành văn bản yêu cầu cơ quan công an xác minh nơi cư trú của bị đơn ngay trong giai đoạn xem xét thụ lý đơn khởi kiện đối với các trường hợp bị đơn cố tình che giấu thông tin.
- Thiết lập chế tài hành chính cụ thể, nghiêm khắc xử phạt cơ quan, tổ chức vi phạm thời hạn 15 ngày cung cấp tài liệu theo Điều 106.
- Nhóm kiến nghị bảo đảm thực hiện pháp luật:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật tố tụng dân sự và tăng cường trợ giúp pháp lý cho người yếu thế.
- Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ và biểu mẫu ấn định thời hạn giao nộp chứng cứ của Thẩm phán nhằm đảm bảo tính thống nhất trong toàn ngành.
- Nâng cao năng lực của các tổ chức bổ trợ tư pháp, phát huy vai trò của Thừa phát lại trong việc lập vi bằng và Luật sư trong hoạt động hỗ trợ đương sự thu thập tài liệu.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và luận giải các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu và dữ kiện pháp lý thực tế:
- Khái quát bức tranh áp lực giải quyết tranh chấp qua số liệu thụ lý năm 2023 của hệ thống Tòa án (468.828 vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, chiếm 77,34% tổng số vụ việc), từ đó khẳng định tính tất yếu của việc giải phóng Tòa án khỏi nghĩa vụ điều tra và chuyển trọng tâm sang đương sự.
- Hệ thống hóa toàn diện 7 biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự theo Khoản 1 Điều 97 BLTTDS năm 2015 và các cơ chế miễn trừ/chuyển dịch nghĩa vụ chứng minh bảo vệ bên yếu thế (người tiêu dùng, người lao động, chủ sở hữu sáng chế).
- Phân tích và mổ xẻ xung đột pháp lý điển hình qua vụ việc thực tế tại Thông báo số 115/TB-TA ngày 02/12/2016 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, chỉ ra lỗ hổng của quy định hỗ trợ thu thập chứng cứ ở giai đoạn tiền thụ lý.
- Đề xuất hệ thống kiến nghị đồng bộ: từ giải thích khái niệm "lý do chính đáng", bổ sung quyền hạn xác minh cư trú trước thụ lý, đến hoàn thiện chế tài đối với quy định 15 ngày tại Điều 106 BLTTDS năm 2015.
Về mặt đóng góp học thuật so với các công trình trước đây: tác giả tự nêu điểm mới của khóa luận là đã tập trung nghiên cứu sâu về nghĩa vụ chứng minh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Đây là nội dung mà các luận văn nghiên cứu trước đó (như công trình của Ngô Nam Toản năm 2020, Hoàng Thị Thu Hường năm 2018 hay Nguyễn Như Quỳnh năm 2018) chưa phân tích chuyên sâu hoặc chỉ giới hạn khảo sát trong phạm vi Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Khóa luận đã phân định rõ tư cách tố tụng nguyên đơn và tư cách người đại diện theo pháp luật của nhóm chủ thể này sau khi Tòa án thụ lý, từ đó làm rõ bản chất nghĩa vụ chứng minh tương ứng của họ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản:
- Phạm vi không gian thuần túy giới hạn trong khuôn khổ pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, chưa mở rộng so sánh lập pháp với các hệ thống pháp luật nước ngoài (như hệ thống Thông luật hay Dân luật) về phân bổ gánh nặng chứng minh.
- Dữ liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên báo cáo tổng kết chung năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao và một số vụ việc minh họa thực tế tại địa bàn thành phố Hà Nội, chưa có điều kiện khảo sát thống kê định lượng trên diện rộng tại Tòa án các tỉnh, thành phố khác.
Hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai bao gồm:
- Khảo sát so sánh cơ chế phân bổ gánh nặng chứng minh (burden of proof) trong tố tụng dân sự của các quốc gia trong khu vực và quốc tế.
- Đánh giá chuyên sâu về tác động của Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đối với việc thu thập, lưu trữ, thẩm định chứng cứ điện tử trong mô hình Tòa án điện tử đang được triển khai.
- Khảo sát thực chứng toàn diện tại nhiều cấp Tòa án về tỷ lệ vụ việc bị trả lại đơn khởi kiện do vướng mắc trong thu thập chứng cứ trước thụ lý.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn thiết thực đối với:
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự, Luật Dân sự đang nghiên cứu về lý luận chứng minh, chứng cứ và cơ chế bảo vệ quyền dân sự.
- Luật sư, Thừa phát lại, Trợ giúp viên pháp lý trong quá trình tư vấn, thu thập tài liệu, lập vi bằng và hỗ trợ thân chủ thực hiện nghĩa vụ giao nộp chứng cứ đúng thời hạn quy định.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong việc tham khảo các phân tích về sự xung đột giữa thời hạn Thẩm phán ấn định tại Khoản 4 Điều 96 với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ.
Nội dung đáng giá nhất để trích dẫn gồm: phần hệ thống hóa sự tiến hóa lịch sử của nghĩa vụ chứng minh từ thời Lê sơ qua các triều đại; bảng phân tích các quy định miễn trừ chứng minh bảo vệ bên yếu thế; và hồ sơ tình huống phân tích điểm nghẽn xác minh nơi cư trú trước thụ lý tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo BLTTDS năm 2015, những trường hợp cụ thể nào đương sự đưa ra yêu cầu nhưng được miễn nghĩa vụ chứng minh lỗi của phía bên kia?
Căn cứ Khoản 1 và Khoản 3 Điều 91 BLTTDS năm 2015, người tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng khởi kiện không phải chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nghĩa vụ chứng minh không có lỗi thuộc về bên kinh doanh. Tương tự, người lao động khởi kiện vụ án bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc kỷ luật trái luật không phải nộp chứng cứ do người sử dụng lao động nắm giữ; người sử dụng lao động phải chịu nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp của việc kỷ luật, sa thải. Ngoài ra, theo Khoản 4 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ, trong vụ kiện xâm phạm quyền đối với sáng chế là quy trình sản xuất sản phẩm mới, bị đơn phải chịu trách nhiệm chứng minh sản phẩm của mình sản xuất theo quy trình khác.
2. Bất cập về mặt kỹ thuật lập pháp của Điều 91 BLTTDS năm 2015 được tác giả chỉ ra là gì?
Điều 91 có tiêu đề là "Nghĩa vụ chứng minh", tuy nhiên nội dung các khoản trong điều luật này chỉ quy định về nghĩa vụ "thu thập, cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ". Trong khi đó, về mặt khoa học pháp lý, hoạt động chứng minh bao hàm chuỗi hành vi liên tục gồm: thu thập, giao nộp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và đưa ra lý lẽ, lập luận, tranh luận để bảo vệ yêu cầu. Tên điều luật và nội dung chưa tương thích hoàn toàn, vô hình trung thu hẹp nghĩa vụ chứng minh thành nghĩa vụ cung cấp tài liệu.
3. Vì sao quy định về thời hạn giao nộp chứng cứ tại Khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015 lại phát sinh xung đột trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm?
Khoản 4 Điều 96 trao quyền cho Thẩm phán ấn định thời hạn nộp chứng cứ nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Quy định này làm phát sinh 3 vướng mắc: (i) Các Thẩm phán ấn định thời hạn không giống nhau do thiếu hướng dẫn; (ii) Chưa có quy định xử lý đối với trường hợp đương sự nộp sau thời hạn Thẩm phán ấn định nhưng vẫn nằm trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm; (iii) Chưa tương thích với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bởi nếu Thẩm phán ấn định mốc thời gian sau phiên họp này thì phiên họp sẽ mất đi ý nghĩa công khai chứng cứ ban đầu.
4. Vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân năm 2016 minh chứng cho lỗ hổng pháp lý nào?
Vụ việc theo Thông báo sửa chữa, bổ sung số 115/TB-TA ngày 02/12/2016 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân (nguyên đơn Nguyễn Hữu Hợi kiện bị đơn Nguyễn Hữu Chiến và Hoàng Thị Hằng Nga) chỉ ra lỗ hổng: Tòa án chỉ có quyền hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ sau khi vụ án đã được thụ lý. Do Công an phường Khương Mai chỉ xác nhận cư trú khi có công văn của Tòa án, còn Tòa án chưa thể ra văn bản khi chưa thụ lý, dẫn tới việc người khởi kiện bị bế tắc hoàn toàn trong việc bổ sung tài liệu theo thông báo của Thẩm phán và đứng trước nguy cơ bị trả lại đơn khởi kiện trái với quyền tiếp cận công lý.
5. Cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước hoặc lợi ích người khác tham gia tố tụng với tư cách gì và nghĩa vụ chứng minh ra sao?
Theo Khoản 2 Điều 68 và Điều 187 BLTTDS năm 2015, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng hoặc lợi ích Nhà nước tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, do đó gánh vác đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn. Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác, theo Khoản 2 Điều 68 và Khoản 2 Điều 85, họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn. Nghĩa vụ chứng minh của họ được hình thành trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn mà họ đại diện.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hoàng Thùy Trang đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng pháp lý về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam theo BLTTDS năm 2015. Thông qua các số liệu thống kê ngành Tòa án năm 2023 và hồ sơ giải quyết tranh chấp thực tế, nghiên cứu đã vạch rõ những bất cập trong việc tự thu thập chứng cứ của đương sự, đặc biệt là tình trạng thiếu cơ chế hỗ trợ xác minh thông tin trước khi thụ lý vụ án. Các kiến nghị hoàn thiện tiêu chí "lý do chính đáng" tại Điều 96, bổ sung thẩm quyền của Tòa án ở giai đoạn xem xét đơn khởi kiện và siết chặt chế tài đối với các cơ quan chậm trễ cung cấp tài liệu là những giải pháp có tính khả thi cao nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân.