CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Một số vấn đề về nghệ thuật trần thuật 1.Khái niệm và vai trò của nghệ thuật trần thuật 1. Khái niệm Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì trần thuật “là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật” [Lê Bá Hán, tr. Trong Giáo trình lí luận văn học: “Trần thuật là kể, thuyết minh, giới thiệu về nhân vật, sự kiện, bối cảnh trong truyện. Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện, nhân vật theo một thứ tự nhất định” [Trần Đình Sử, tr.
Trần thuật không chỉ là lời thuật, lời kể, thuyết minh. Nó bao hàm cả việc “miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả” [Lê Bá Hán, tr. Trần thuật không chỉ có trong truyện mà còn có cả trong thơ trữ tình nhưng trần thuật thể hiện sự đa dạng và phong phú nhất phải là tác phẩm tự sự. Như vậy, trần thuật luôn có hai yếu tố quy định, đó là người kể và chuỗi ngôn từ.
Yếu tố người kể chuyện, ta sẽ có ngôi trần thuật, lời trần thuật, điểm nhìn trần thuật. Yếu tố chuỗi ngôn từ ta lại có nhiều yếu tố khác như ????: dựng cảnh, dự báo; phân tích bình luận, giọng điệu. Vai trò của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Theo 150 thuật ngữ văn học của nhà phê bình Lại Nguyên Ân thì tiểu thuyết là: “Tác phẩm tự sự trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến đủ mức truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách. Belinski gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời tư” do chỗ nó “miêu tả những tình cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của con người” [Lại Văn Ân,tr.313] 14 Tiểu thuyết là thể loại lớn tiêu biểu cho nghệ thuật tự sự.
Bằng phương thức trần thuật, tiểu thuyết chiếm lĩnh và khái quát hiện thực cuộc sống một cách đa chiều và phong phú. Trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của tự sự. Trong tiểu thuyết, trần thuật tập trung vào số phận của một hay nhiều cá nhân trong qua trình hình thành và phát triển của nó, trần thuật ở đây được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách. Trần thuật trong tiểu thuyết là một phương diện thi pháp đặc trưng của thể loại.
Trần thuật tồn tại dưới nội dung và hình thức trần thuật. Nghệ thuật trần thuật đóng vai trò rất quan trọng trong xây dựng tiểu thuyết. Nghệ thuật trần thuật chính là đặc trưng của văn xuôi nghệ thuật luôn gắn liền với bố cục, kết cấu tác phẩm. Tác phẩm dù kể theo trình tự nhân quả, hay liên tưởng, kể nhanh hay chậm, ngắt quãng rồi bổ sung thì trần thuật là cả một hệ thống tổ chức phức tạp nhằm đưa hành động, lời nói nhân vật vào đúng vị trí của nó để người đọc có thể lĩnh hội theo ý muốn của tác giả.
Đới với tiểu thuyết, một thể loại văn xuôi dài hơi thì nghệ thuật trần thuật càng được xem là thủ pháp cốt yếu, nhờ nó mà nhà văn mới có thể sắp đặt một cách cuốn hút các câu chuyện, các nhân vật, các sự kiện tình huống một cách có logic và truyền tải một cách hiệu quả, sinh động các hiện thực cần phản ánh đến độc giả và cũng nhờ nó mà người ta mới phân biệt tài năng của các nhà viết tiểu thuyết với nhau. Nhờ nghệ thuật trần thuật mà tiểu thuyết mới được xem như một trong những sáng tạo kì diệu nhất thời hiện đại. Thực tiễn văn học cũng cho thấy, nghệ thuật trần thuật là trong những yếu tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn. Đối với người nghệ sĩ tài năng, nghệ thuật trần thuật ở mỗi tác phẩm lại có những sáng tạo riêng.
Chính vì vậy, không thể phủ nhận vai trò của nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm tự sự.Một số yếu tố của nghệ thuật trần thuật 1.Người trần thuật Người trần thuật còn gọi là người kể chuyện là một trong những yếu tố quan trọng của nghệ thuật trần thuật.N Posplelov thì người kể chuyện là “người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến, cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [Posplelov, tr. Tz Todorov tuyên bố: Người kể 15 chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng (…) Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện” [Trần Đình Sử (chủ biên) (2004), tr. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “người trần thuật là một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành (…) nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự” [Lê Bá Hán, tr. Như vậy, chủ thể trần thuật là một hình tượng do nhà văn sáng tạo ra.
Chủ thể trần thuật có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện trong tác phẩm tự sự, nhưng tác phẩm là do nhân vật này bằng lời văn của mình tạo nên. Còn Lại Nguyên Ân quan niệm: “Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật - một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra” [Lại Nguyên Ân, tr. Có thể thấy Lại Nguyên Ân đã chú ý đến sự chứng kiến và giải thích của chủ thể trần thuật đối với những sự việc trong tác phẩm văn học. Đây là dấu hiệu để nhận biết chủ thể trần thuật trong tác phẩm.
Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà và Nguyễn Thái Hòa cũng đưa ra những ý kiến về người trần thuật: “Người kể chuyện là chủ thể của lời kể chuyện, là là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học” [Lê Ngọc Trà, tr. Định nghĩa của Lê Ngọc Trà ngắn gọn nhưng đã nêu được nét cơ bản về người kể chuyện. Riêng Nguyễn Thái Hòa: “Người kể chuyện là người biết tất cả, còn gọi là “người kể toàn thông”, biết hết cả cốt truyện, nhân vật và dắt dẫn nhân vật hành động. [Nguyễn Thái Hòa, tr.
Tuy nhiên anh ta có thể là người thuyết minh, là một nhân chứng hoặc là không liên quan đến câu chuyện nhằm “tạo một khoảng cách giữa người kể và chuyện”. Để kể chuyện người kể phải có một cái nhìn bao quát để lựa chọn, điều khiển nhân vật hành động. Vì thế, một khi đã có chuyện thì không thể thiếu người kể chuyện và tất yếu phải có một điểm nhìn thích hợp. Dù các nhà nghiên cứu có những cách hiểu khác nhau về người trần thuật thế nào đi chăng nữa thì vai trò của người trần thuật cũng rất quan trọng.
Nó không chỉ dẫn dắt, kết nối làm trung gian để bạn đọc kết nối với thế giới nghệ thuật mà còn có chức năng tổ chức, sắp xếp các sự kiện trong tác phẩm. Điều này chi phối đến việc lựa chọn ngôi kể của nhà văn. Người kể chuyện là yếu tố thuộc thế giới miêu tả. Đó là 16 một người do nhà văn tạo ra để thay mình thực hiện hành vi trần thuật.
Người kể chuyện có thể được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ hai. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng tôi là một nhân vật trong truyện, chứng kiến các sự kiện đứng ra kể. Hình thức này xuất hiện muộn vào những năm đầu thế kỉ XX, ở châu Âu. Nội dung kể không ra ngoài phạm vi hiểu biết của một người, thường gắn với quan niệm đánh giá riêng của nhân vật đó.
Bakhtin cho rằng: “Trần thuật ở ngôi thứ nhất là tương tự với trần thuật của người kể chuyện. Đôi khi hình thức này do dụng ý dựa trên lời kể của kẻ khác qui định; đôi khi như lối kể của Tuôcghênhiep, nó có thể tiếp cận và cuối cùng là hòa nhập với lời trực tiếp của tác giả, tức là hoạt động với lời một giọng của ngôi thứ hai” [Trần Đình Sử 2, tr. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba, là hình thức người kể không xuất hiện trực tiếp mà ẩn mình, đứng bên ngoài văn bản, quan sát diễn biến của toàn bộ câu chuyện đã xảy ra một cách trọn vẹn và kể lại cho chúng ta. Người kể chuyện ngôi thứ hai, hình thức này ít xuất hiện trong tác phẩm văn học.
Với ngôi kể thứ hai, tạo ra một không gian gián cách: một cái tôi khác, một cái tôi được kể ra, chứ không phải tự kể như ngôi thứ nhất. Từ những khái niệm, những đặc tính trọng yếu đó về người trần thuật nên mỗi nhà văn khi bắt tay vào sáng tác tác phẩm tự sự luôn có ý thức lựa chọn cho mình một người kể chuyện thích hợp.Điểm nhìn trần thuật Điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiện tượng trong tác phẩm. Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán thì: “Điểm nhìn là vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm. Là điểm rơi của cái nhìn từ khách thể” [Lê Bá Hán].
Nói về vai trò của điểm nhìn, Pospelov cho rằng: “Trong tác phẩm tự sự điều quan trọng là tương quan giữa các sự vật với chủ thể trần thuật hay nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật với những gì mà anh ta miêu tả” [Pospelov, tr. Theo giáo trình Lí luận văn học của Phương Lựu (chủ biên), các nhà lí luận văn học cho rằng: “Người nghệ sĩ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện về đời sống được nếu không xác định cho mình một điểm nhìn sự vật, hiện tượng: góc nhìn độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong ra hay bên ngoài vào…Do vậy điểm nhìn 17 trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật” [Phương Lựu, tr. Và từ đó, tác giả đưa ra cách để phân biệt điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài: - Điểm nhìn bên trong: Người trần thuật nhìn thấy đối tượng qua lăng kính của một tâm trạng cụ thể, dễ dàng tái hiện diễn biến trong tâm hồn của nhân vật. - Điểm nhìn bên ngoài: Chủ thể trần thuật giữ cái nhìn khách quan từ vị trí bên ngoài có khoảng cách nhất định với đối tượng trần thuật.