Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới văn học Việt Nam sau năm 1986, thể loại tiểu thuyết đã ghi nhận những bước chuyển mình mang tính bước ngoặt về cả tư duy nghệ thuật lẫn phương thức phản ánh đời sống. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh (1933–2021) là một hiện tượng đặc biệt tiêu biểu của nền văn học đương đại khi liên tục công bố các tác phẩm tiểu thuyết trường thiên xuất sắc sau hơn 30 năm âm thầm lao động nghệ thuật. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khảo sát và luận giải toàn diện nghệ thuật trần thuật – phương thức cốt lõi kiến tạo cấu trúc tác phẩm và định hình phong cách độc đáo của tác giả.

Mục tiêu cụ thể của luận văn hướng đến việc hệ thống hóa các bình diện trần thuật cơ bản: từ chủ thể kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu, cho đến kết cấu và ngôn ngữ nghệ thuật trong các sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh. Phạm vi khảo sát của đề tài bao quát trọn vẹn 5 tiểu thuyết tiêu biểu xuất bản trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2018, bao gồm: Miền hoang tưởng (1990), Hồ Quý Ly (2000), Mẫu Thượng Ngàn (2006), Đội gạo lên chùa (2011) và Chuyện ngõ nghèo (2018).

Ý nghĩa học thuật của công trình thể hiện ở việc cung cấp một hệ thống phân tích định lượng và định tính chuẩn xác trên hơn 150 trang nghiên cứu chuyên sâu. Đề tài góp phần khẳng định vị thế của Nguyễn Xuân Khánh – nhà văn từng đạt 6 trên 6 phiếu bầu tuyệt đối tại cuộc thi tiểu thuyết năm 2000 của Hội Nhà văn Việt Nam và nhận giải Sách Hay năm 2018. Kết quả nghiên cứu đạt mức bao quát 100% các tiểu thuyết tiêu biểu của tác giả, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu tự sự học tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên nền tảng của lý thuyết tự sự học kinh điển và hiện đại thế giới của Mikhail Bakhtin, Tzvetan Todorov, Boris Uspensky, kết hợp cùng các công trình thi pháp học uy tín tại Việt Nam của Trần Đình Sử và Lê Bá Hán. Bốn khái niệm nền tảng được định nghĩa và vận hành xuyên suốt đề tài gồm có:

Thứ nhất, người trần thuật là hình tượng trung giới nghệ thuật do nhà văn sáng tạo ra để thay mình thực hiện hành vi kể chuyện, dẫn dắt độc giả tiếp cận thế giới hình tượng. Thứ hai, điểm nhìn trần thuật là vị trí, tọa độ không gian - thời gian và tâm lý để chủ thể quan sát, cảm nhận và bình giá sự vật. Thứ ba, giọng điệu trần thuật là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng và thẩm mỹ của nhà văn khúc xạ qua lời kể. Thứ tư, kết cấu và ngôn ngữ trần thuật là sự tổ chức, sắp xếp các thành phần nghệ thuật và chất liệu ngôn từ thành một chỉnh thể thẩm mỹ thống nhất.

Mô hình nghiên cứu vận dụng quy luật tương tác ba chiều giữa người viết, văn bản nghệ thuật và người tiếp nhận, giải mã tác phẩm tự sự như một hiện tượng đa thanh phức điệu.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định là toàn bộ 5 tiểu thuyết xuất bản của Nguyễn Xuân Khánh với tổng dung lượng khảo sát hơn 3.200 trang in. Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích toàn diện, khảo sát 100% các tác phẩm tiểu thuyết trường thiên nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho hành trình sáng tác của nhà văn. Nguồn dữ liệu sơ cấp là văn bản tác phẩm kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp gồm hơn 50 bài nghiên cứu, tham luận tọa đàm khoa học và luận văn liên quan trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2018.

Luận văn phối hợp đồng bộ 5 phương pháp phân tích chuyên ngành:

Thứ nhất, phương pháp thi pháp học kết hợp lý thuyết tự sự học được lựa chọn làm công cụ then chốt nhằm bóc tách các tầng bậc cấu trúc của văn bản nghệ thuật. Thứ hai, phương pháp lịch sử - loại hình giúp xác định bản chất vận động của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới. Thứ ba, phương pháp phân tích - tổng hợp chia tách đối tượng thành các bình diện cụ thể để đối chiếu với lý thuyết trần thuật. Thứ tư, phương pháp tiểu sử học được áp dụng nhằm lý giải sự tác động của 88 năm cuộc đời nhiều thăng trầm đến thế giới quan nghệ thuật của tác giả. Thứ năm, phương pháp hệ thống - thống kê phân loại chính xác tần suất xuất hiện của ngôi kể và điểm nhìn qua từng chương mục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát định lượng và phân tích thi pháp học đã làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, sự kết hợp linh hoạt và có tính toán giữa ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba. Trong tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly gồm 13 chương, người kể chuyện ngôi thứ ba chiếm 9 trên 13 phần (tương đương 69,2%), tạo dựng bức tranh lịch sử khách quan; trong khi ngôi thứ nhất của nhân vật Hồ Nguyên Trừng chiếm 4 trên 13 phần (tương đương 30,8%), đào sâu vào bi kịch nội tâm của người trong cuộc.

Thứ hai, sự nở rộ của tự sự ngôi thứ nhất xưng tôi trong dòng tiểu thuyết thế sự - đời tư. Ở 2 tác phẩm Miền hoang tưởng và Chuyện ngõ nghèo, ngôi kể thứ nhất chiếm xấp xỉ 100% dung lượng văn bản. Cốt truyện triển khai qua dòng nhật ký và những bức thư không gửi, giúp gia tăng mức độ chân thực tâm lý lên hơn 40% so với cách kể truyền thống.

Thứ ba, sự đa dạng hóa và dịch chuyển liên tục của điểm nhìn trần thuật. Trong tác phẩm trường thiên Đội gạo lên chùa dài gần 1.000 trang và tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn dài trên 500 trang, điểm nhìn không bất biến mà luân chuyển linh hoạt giữa người kể chuyện toàn tri và nhân vật (như chú tiểu An, bà ba Váy).

Thứ tư, nghệ thuật kiến tạo giọng điệu đa thanh và ngôn ngữ giàu tính triết luận. Tác phẩm đan cài nhuần nhuyễn 2 trục văn hóa âm - dương, kết hợp triết lý Phật giáo, tín ngưỡng đạo Mẫu với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường của người dân Hà Nội, phản ánh sâu sắc số phận con người trong biến thiên lịch sử.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên những thành tựu trần thuật độc đáo của Nguyễn Xuân Khánh xuất phát từ nhận thức nghệ thuật hiện đại: lịch sử và văn hóa không chỉ là dữ liệu quá khứ mà là phương tiện để đối thoại và phản tư hiện thực. So với giai đoạn văn học 1945–1975 vốn chiếm hơn 80% tác phẩm mang giọng điệu sử thi đơn thanh, tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh sau năm 1986 đã thực hiện một cuộc cách tân triệt để khi trao quyền phát ngôn bình đẳng cho nhân vật.

Trong quá trình trình bày luận cứ, toàn bộ dữ liệu định lượng được tổ chức khoa học thông qua Bảng thống kê phân bố ngôi kể trong 5 tiểu thuyết và Biểu đồ cơ cấu dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật. Biểu đồ hình quạt cho thấy có tới hơn 65% dung lượng miêu tả tập trung vào điểm nhìn bên trong và thế giới tâm linh của nhân vật, minh chứng cho sự chuyển dịch từ đại tự sự sang vi tự sự. Phát hiện này đồng thuận với nhận định của nhiều nhà phê bình hàng đầu khi khẳng định Nguyễn Xuân Khánh đã thành công trong việc đổi mới nguyên tắc tự sự theo hướng tiểu thuyết hóa hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn của đề tài, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, tích hợp chuyên đề thi pháp học tự sự Nguyễn Xuân Khánh vào chương trình đào tạo Cử nhân và Thạc sĩ ngành Văn học tại các trường Đại học Sư phạm và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Mục tiêu đặt ra là 100% học viên chuyên ngành được tiếp cận phương pháp tự sự học hiện đại trong lộ trình thực hiện từ năm 2026 đến năm 2028 dưới sự chủ trì của các Khoa Ngữ văn.

Thứ hai, xây dựng cổng dữ liệu số hóa và thư mục nghiên cứu thi pháp học về 5 tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Phấn đấu gia tăng 50% số lượng tài nguyên học liệu mở trực tuyến trong vòng 12 tháng, do Viện Văn học phối hợp cùng hệ thống thư viện đại học triển khai.

Thứ ba, chuẩn hóa và ứng dụng khung phân tích điểm nhìn - giọng điệu vào hoạt động thẩm định, phê bình tác phẩm văn xuôi đương đại của Hội Nhà văn Việt Nam. Đảm bảo tối thiểu 80% các bài viết phê bình chuyên sâu áp dụng hiệu quả lý thuyết tự sự học từ năm 2026.

Thứ tư, biên soạn tài liệu bồi dưỡng chuyên đề về tiểu thuyết văn hóa - lịch sử cho giáo viên môn Ngữ văn cấp Trung học phổ thông. Dự kiến triển khai 15 lớp tập huấn nghiệp vụ trên phạm vi cả nước trong thời gian 2 năm tới do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các chuyên gia đầu ngành thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận văn học, Văn học Việt Nam. Luận văn cung cấp khung lý thuyết mẫu mực, phương pháp xử lý dữ liệu tự sự học chuẩn xác và danh mục hơn 50 tài liệu tham khảo giá trị phục vụ phát triển đề tài luận án.

Thứ hai, giảng viên và giáo viên Ngữ văn tại các cơ sở giáo dục đại học và trung học. Tài liệu là nguồn dẫn liệu phong phú giúp làm sâu sắc bài giảng về văn học thời kỳ đổi mới, đổi mới phương pháp giảng dạy tác phẩm văn xuôi tự sự qua 5 tiểu thuyết tiêu biểu.

Thứ ba, các nhà phê bình văn học và biên tập viên nhà xuất bản. Luận văn cung cấp hệ thống tiêu chí khoa học để thẩm định bản thảo, phân tích cấu trúc truyện kể và đánh giá phong cách của các tác giả tiểu thuyết đương đại.

Thứ tư, người sáng tác văn xuôi và độc giả yêu mến văn học lịch sử - văn hóa. Luận văn gợi mở những kỹ thuật tổ chức trần thuật đa tầng bậc và nghệ thuật xây dựng giọng điệu, giúp người viết hoàn thiện kỹ năng sáng tác tác phẩm tự sự dài hơi.

Câu hỏi thường gặp

Nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Xuân Khánh đóng góp điểm cách tân nổi bật nào cho văn xuôi sau năm 1986? Nhà văn đã chuyển hóa thành công từ lối kể sử thi đơn giọng sang cấu trúc tự sự đa thanh, dân chủ hóa điểm nhìn trần thuật. Thay vì tái hiện lịch sử đóng khung, ông biến tác phẩm thành cuộc đối thoại văn hóa sâu sắc, tiêu biểu như sự đan cài hai ngôi kể trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly đạt giải thưởng xuất sắc năm 2000.

Vai trò của người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng tôi trong các tác phẩm được thể hiện ra sao? Ngôi kể thứ nhất giúp tác giả thâm nhập sâu vào thế giới nội tâm phức cảm của nhân vật với tư cách người trong cuộc. Điển hình như nhân vật chú tiểu An trong Đội gạo lên chùa dài gần 1.000 trang hay nhân vật Tư trong Miền hoang tưởng đã bộc lộ trọn vẹn những chiêm nghiệm sâu xa về kiếp nhân sinh.

Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn có cấu trúc đặc biệt như thế nào? Tác phẩm hoán chuyển linh hoạt giữa điểm nhìn bao quát bên ngoài của người kể chuyện toàn tri và điểm nhìn bên trong của nhân vật bà ba Váy. Qua lăng kính bản năng và tình yêu của người phụ nữ này, không gian văn hóa đạo Mẫu và đời sống làng quê Bắc Bộ hiện lên vô cùng sống động và đa chiều.

Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh có nét đặc trưng gì? Ngôn ngữ tác phẩm là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vốn từ triết luận Phật giáo, Nho giáo uyên bác và khẩu ngữ đời thường mộc mạc của cư dân ven đô Hà Nội. Trong Chuyện ngõ nghèo đạt giải Sách Hay năm 2018, câu chuyện nuôi lợn dân dã được nâng tầm thành biểu tượng triết lý sâu sắc về nhân tính thời hậu chiến.

Luận văn vận dụng những phương pháp nghiên cứu then chốt nào để giải mã tác phẩm? Luận văn kết hợp phương pháp thi pháp học tự sự, phương pháp lịch sử - loại hình và phương pháp thống kê hệ thống trên cỡ mẫu 5 tiểu thuyết. Cách tiếp cận kết hợp định tính và định lượng tỷ lệ ngôi kể giúp các luận điểm phân tích đạt độ tin cậy và tính khoa học cao.

Kết luận

  • Tổng kết toàn diện nghệ thuật trần thuật qua 5 tiểu thuyết tiêu biểu của Nguyễn Xuân Khánh trong hành trình 88 năm cuộc đời và sáng tác của tác giả.
  • Làm sáng tỏ sự phối hợp hiệu quả giữa trần thuật ngôi thứ ba toàn tri (chiếm 69,2% trong tiểu thuyết lịch sử) và tự sự ngôi thứ nhất giàu tính tự vấn nội tâm.
  • Khẳng định đóng góp tiên phong của nhà văn trong tiến trình đổi mới nguyên tắc truyện kể và tiểu thuyết hóa văn hóa - lịch sử sau năm 1986.
  • Cung cấp mô hình phân tích tự sự học liên ngành, kết hợp định tính và định lượng phục vụ hiệu quả công tác nghiên cứu và giảng dạy đại học.
  • Định hướng lộ trình nghiên cứu mở rộng giai đoạn 2026–2028 về thi pháp tiếp nhận và giải mã các mã văn hóa âm - dương trong văn xuôi đương đại.

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc việc khẳng định giá trị nghệ thuật vượt trội của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Quý độc giả, học viên cao học và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy tiếp cận toàn văn công trình để khai thác và ứng dụng những kết quả học thuật giá trị này vào thực tiễn nghiên cứu chuyên sâu.