Tài liệu: Nghệ thuật trần thuật trong kí vũ bằng

Chuyên khảo Nghệ thuật trần thuật trong kí vũ bằng phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực trong thời kỳ mới

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án nghiên cứu
139
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Nghệ thuật Trần thuật trong Kí Vũ Bằng

Nghệ thuật trần thuật là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu văn học, đặc biệt khi áp dụng vào thể loại kí của nhà văn Vũ Bằng. Vũ Bằng là một cây bút xuất sắc đã khẳng định tên tuổi mình trong nhiều lĩnh vực: báo chí, dịch thuật, biên khảo và sáng tác. Các tác phẩm kí nổi tiếng của ông như Cai, Bốn mươi năm nói láo, Thương nhớ mười hai đã góp phần xác lập vị thế của ông trong lịch sử thể loại kí Việt Nam. Tuy nhiên, mảng kí của Vũ Bằng chưa được nghiên cứu sâu sắc xứng tầm với giá trị thực tế của nó. Việc nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong các tác phẩm kí của ông sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về kỹ thuật sáng tác và phong cách riêng của nhà văn.

1.1. Định nghĩa Nghệ thuật Trần thuật

Nghệ thuật trần thuật là cách thức mà nhà văn chuyển tải nội dung, bộc lộ năng khiếu văn chương và thể hiện phong cách riêng khi phản ánh cuộc sống. Đây là khía cạnh kỹ thuật giúp tác phẩm hấp dẫn độc giả, không chỉ ở nội dung mà còn ở cách thức trình bày. Lý thuyết tự sự ra đời để giúp nghiên cứu cấu trúc văn bản và đặc điểm trần thuật, giúp nhận ra những kỹ thuật đặc biệt của từng thể loại và từng tác giả.

1.2. Vai trò của Vũ Bằng trong Văn học Kí

Vũ Bằng là một trong những tác giả tiêu biểu trong lĩnh vực kí Việt Nam, cùng với Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng. Suốt mấy mươi năm cầm bút, ông đã để lại một số lượng tác phẩm kí có giá trị cao, thể hiện tài hoa và năng lực của một người giàu nhiệt huyết văn chương. Các tác phẩm của ông không chỉ phản ánh cuộc sống mà còn khôi phục hình ảnh nhà văn tâm huyết, có sức sáng tạo không mệt mỏi.

II. Lý do Chọn Đề tài Nghiên cứu Nghệ thuật Trần thuật

Việc chọn nghệ thuật trần thuật trong kí Vũ Bằng làm đối tượng nghiên cứu có nhiều lý do chính đáng. Thứ nhất, mặc dù thể loại kí có lịch sử phát triển khá lâu dài và lực lượng tham gia sáng tác khá đông, nhưng số tác giả thành công không nhiều. Thứ hai, các tác phẩm kí của Vũ Bằng chưa được nghiên cứu sâu sắc và toàn diện. Thứ ba, nghiên cứu nghệ thuật trần thuật giúp chúng ta giải mã sự phức tạp của cấu trúc bên trong tác phẩm, từ đó đánh giá phong cách, tài năng và tâm huyết của nhà văn một cách khoa học và sâu sắc. Cuối cùng, phương thức tự sự là một công cụ hiệu quả để phân tích các tác phẩm tự sự nói chung, cung cấp những cơ sở lý luận vững chắc hơn cho lĩnh vực tự sự học.

2.1. Tầm quan trọng của Nghệ thuật Trần thuật

Nghệ thuật trần thuật là chìa khoá để giải mã tác phẩm văn học. Chính ở cách trần thuật, nhà văn bộc lộ được năng khiếu, giãi bày cảm xúc và tâm trạng, đồng thời thể hiện phong cách riêng. Mỗi nhà văn có cách trần thuật khác nhau, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho tác phẩm. Nghiên cứu khía cạnh này giúp ta hiểu sâu hơn về cốt lõi của sáng tác.

2.2. Hạn chế trong Nghiên cứu Hiện tại

Cho đến nay, công trình nghiên cứu về kí của Vũ Bằng vẫn còn rất ít. Các bài viết chủ yếu mang tính khái quát, chung chung, chưa có công trình chuyên sâu xứng tầm với giá trị của tác phẩm. Tính đến năm 2000, chỉ có 26 bài viết về Vũ Bằng và tác phẩm của ông. Do đó, cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu, tập trung vào nghệ thuật trần thuật để làm sáng tỏ giá trị thực sự của mảng kí.

III. Lịch sử Nghiên cứu về Vũ Bằng và Thể loại Kí

Lịch sử nghiên cứu về Vũ Bằng bắt đầu từ năm 1937, khi Khái Hưng là người đầu tiên viết về ông. Trên báo Ngày nay, Khái Hưng nhận xét tiểu thuyết Một mình trong đêm tối của Vũ Bằng là một quyển sách "không tầm thường chút nào". Năm 1942, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại đã xếp Vũ Bằng vào hàng các tiểu thuyết gia tả chân. Từ đó có thể thấy Vũ Bằng đã sớm được khẳng định tài năng từ những năm bốn mươi của thế kỉ XX. Tuy nhiên, những bài viết này chỉ dừng lại ở đánh giá tổng quát. Cho đến nay, mặc dù có một số luận án nghiên cứu ở các trường đại học và viện khoa học, nhưng số lượng công trình chuyên sâu vẫn còn hạn chế, không đủ để phản ánh toàn diện giá trị của sáng tác Vũ Bằng.

3.1. Những Công trình Nghiên cứu Sớm

Khái Hưng là người đi tiên phong khi viết về Vũ Bằng vào năm 1937, đánh giá tác phẩm của ông một cách tích cực. Sau đó, Vũ Ngọc Phan đã chính thức xếp Vũ Bằng vào hàng các tiểu thuyết gia tả chân nổi tiếng. Những đánh giá này cho thấy tài năng của Vũ Bằng đã được công nhận sớm từ những năm bốn mươi, nhưng chủ yếu ở mảng tiểu thuyết hơn là mảng kí.

3.2. Hiện trạng Nghiên cứu Hiện đại

Hiện nay, mặc dù có các luận án thạc sĩ, PTS, tiến sĩ về Vũ Bằng ở các trường đại học, nhưng tổng số công trình vẫn không nhiều. Các bài viết và luận án thường mang tính tổng hợp, đánh giá chung về sự nghiệp của nhà văn. Chưa có công trình chuyên sâu tập trung vào nghệ thuật trần thuật trong kí của Vũ Bằng, vì thế cần thiết phải có những nghiên cứu mới để bù đắp khoảng trống này.

IV. Phương pháp Nghiên cứu và Ứng dụng Lý thuyết Tự sự

Để nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong kí Vũ Bằng một cách toàn diện, chúng ta cần áp dụng lý thuyết tự sự như một công cụ phân tích chính. Lý thuyết tự sự học ra đời nhằm giúp nghiên cứu cấu trúc văn bản và những đặc điểm trần thuật của các tác phẩm tự sự, từ đó nhận ra những kỹ thuật trần thuật của từng thể loại và từng tác giả. Chức năng cốt lõi của văn học là phản ánh cuộc sống, và phương thức tự sự là một trong những biểu đạt quan trọng nhất để thực hiện chức năng này. Việc áp dụng lý thuyết tự sự vào nghiên cứu kí Vũ Bằng không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn về kỹ thuật sáng tác của nhà văn, mà còn cung cấp những cơ sở lý luận vững chắc hơn cho lĩnh vực tự sự học nói chung, đóng góp vào việc giải mã những tác phẩm tự sự khác.

4.1. Lý thuyết Tự sự học và Ứng dụng

Lý thuyết tự sự học là một khoa học khá mới mẻ nhưng rất hiệu quả trong phân tích nghệ thuật trần thuật. Nó giúp ta nghiên cứu cấu trúc văn bản, xác định những đặc điểm riêng biệt của phương thức tự sự. Khi áp dụng vào kí Vũ Bằng, lý thuyết tự sự giúp ta nhận diện kỹ thuật trần thuật độc đáo của nhà văn, từ đó đánh giá giá trị thực sự của tác phẩm.

4.2. Chức năng Phản ánh Cuộc sống qua Trần thuật

Chức năng phản ánh cuộc sống là nhiệm vụ cốt lõi của văn học. Phương thức tự sự là công cụ thể hiện chức năng này hiệu quả nhất. Vũ Bằng sử dụng nghệ thuật trần thuật để phản ánh con người, cuộc sống với muôn hình vẻ, bộc lộ cảm xúc và tâm trạng độc đáo. Nghiên cứu khía cạnh này giúp ta thấu hiểu sâu hơn về tâm huyết và tài năng sáng tác của nhà văn.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KÍ VŨ BẰNG TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA KÍ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1. Kí Vũ Bằng trong lịch sử kí Việt Nam 1. Giới thuyết về thể loại kí văn học Tác phẩm văn học không tồn tại chung chung mà tồn tại qua thể loại cụ thể. Sự tập hợp những tác phẩm giống nhau về phương thức miêu tả và hình thức tồn tại, tạo ra một kiểu giao tiếp với người đọc hình thành nên thể loại.

Thể loại là hình thức tổ chức của tác phẩm trong đó tương ứng với một loại nội dung thì có một loại hình thức phù hợp với nó. Các thể loại theo thời gian không lặp lại nguyên xi mà có sự biến đổi, tái tạo qua các tài năng mang đậm dấu ấn cá tính sáng tạo và phong cách của nhà văn. Bởi vậy, mỗi thể loại không chỉ có duy nhất một định nghĩa về nó. Thể loại kí cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa kí là “một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút,. Trong sách Lí luận văn học (Nhà xuất bản Giáo dục, 1993), Gs.Hà Minh Đức cho rằng: “Các thể kí văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng tường thuật, miêu tả, biểu hiện, bình luận về những sự kiện và con người có thật trong cuộc sống, với nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính thời sự của đối tượng miêu tả” [19,191]. Sách Lí luận văn học do Gs.Phương Lựu chủ biên thì khẳng định: “Phải là loại văn xuôi tự sự trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện v. thì mới làm nên đặc trưng của kí” [35, 423].

Nhà văn Tô Hoài - một người rất thành công khi viết kí lại quan niệm: “Kí cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nó đấy, nhưng vóc dáng nó luôn 11 đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ứng” [25, 33]. Mở rộng ra thế giới, Macxim Gorki định nghĩa: “Kí nằm ở giữa văn nghiên cứu và truyện ngắn” [35, 433]. Gulaiep thì định nghĩa: “Kí là một biến thể của loại tự sự” [35, 420]. Ru-bin-xép (nhà nghiên cứu Liên Xô) thừa nhận: “Về kí, thực tế là không thể nói đến cái gì xác định được đặc trưng thể loại của nó” [15, 21].

Đặc trưng của thể loại đã không khuôn kí vào một khuôn khổ nhất định và do đó có rất nhiều định nghĩa về nó. Khi tìm hiểu, nghiên cứu về kí, các nhà nghiên cứu có thể đứng trên nhiều tiêu chí, quan điểm để xem xét. Tác giả Đức Dũng trong bài viết Thử phân biệt kí văn học và kí báo chí đã thừa nhận có thể chia tách thành hai loại kí văn học và kí báo chí. Một trong những điểm khác nhau cơ bản giữa chúng mà tác giả chỉ ra là: “Cái tôi trong kí văn học là cái tôi thẩm mĩ gắn liền với thế giới quan thẩm mĩ của tác giả.

Không giống như vậy, cái tôi trong kí báo chí trước hết là cái tôi công dân gắn bó chặt chẽ với cái ta cộng đồng. Tác giả kí báo chí phản ánh hiện thực trước hết là ở tư cách công dân” [15, 24]. Còn Hoàng Ngọc Hiến thì cũng chú ý phân biệt nhưng cho rằng đây là “một sự phân biệt hết sức ước lệ” [28, 21]. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhận ra những đặc trưng cơ bản của kí để phân biệt nó với những thể loại khác, đặc biệt là các thể loại văn xuôi tự sự.

Trước hết, kí là một thể loại thường viết về người thật việc thật. Nó trần thuật những sự việc thật, con người thật một cách xác thực đã xảy ra trong thực tế chứ không phải là sắp xảy ra, sẽ xảy ra trong tương lai. Những biến cố thời sự, những vấn đề nóng bỏng được đặt ra trong cuộc sống thường được người viết kí đặc biệt quan tâm. Do trần thuật người thật việc thật nên kí có khả năng rút ngắn khoảng cách giữa tác phẩm với cuộc sống, đáp ứng nhu cầu hiểu biết của tác giả.

Nói như vậy không có nghĩa là kí không có hư cấu. Nếu hiểu hư cấu với nghĩa rộng rãi là tác giả có thể thay đổi ít nhiều trật tự tự nhiên vốn có của đối tượng và sắp xếp lại một số tình tiết, miễn là không thay đổi lôgic nội tại của 12 bản thân đối tượng thì kí vẫn là thể loại có quyền hư cấu. Mặt khác, người viết kí không phải lúc nào và ở đâu cũng là người chứng kiến các sự kiện xảy ra mà nhiều khi chỉ là người nghe kể lại. Đặc trưng thứ hai là kí mang tính tổng hợp của đối tượng miêu tả.

Nó không chỉ lấy số phận của một con người, một đối tượng thiên nhiên để miêu tả, phân tích mà còn có khả năng dựng lên những bức tranh rộng lớn về xã hội, phong tục tập quán. Khi viết bài bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động một vốn kiến thức tổng hợp, phong phú về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lí,. kết hợp nhuần nhuyễn trong một phong cách giàu chất trí tuệ và trữ tình, nghị luận sác bén và suy tư đa chiều. Đặc trưng thứ ba của kí là tính chủ quan.

Người ta chỉ hay viết kí khi vấn đề đó thực sự là vấn đề liên quan, gần gũi. Tập Sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ mà cũng đầy hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi, không chỉ để thoả mãn niềm khát khao “xê dịch” mà chủ yếu là tìm kiếm chất vàng mười trong thiên nhiên cũng như trong cuộc sống, trong những con người lao động nơi đây. Lịch sử kí Việt Nam Tuy thể kí xa xưa không phải có nguồn gốc ở Việt Nam mà là một thể loại vay mượn từ Trung Hoa, song nó cũng đã có một lịch sử phát triển lâu dài trong nền văn học dân tộc. Thời trung đại, từ Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái ở thế kỉ XIII đã hình thành truyền thống ghi chép về “cái có thực”.

Đến giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX, các tác phẩm kí trở nên phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung. Bởi văn học giai đoạn này là kết quả của một “giai đoạn xã hội Việt Nam có nhiều biến cố, biến động. Con người sống trong giai đoạn này không phải chỉ có rung cảm trước cuộc sống, mà còn muốn nhận thức, lí giải nó; và quá trình này đưa đến sự ra đời của một loại tác phẩm kí” (Theo Nguyễn Lộc). Tiêu biểu cho kí trung đại là các tác phẩm Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ, Cát xuyên tiệp kí của Trần Tiến, Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác.

13 Tập Vũ trung tuỳ bút (Phóng bút trong mưa) là một tác phẩm ghi chép nhiều sự việc xảy ra trong xã hội những năm tháng cuối triều Lê - Trịnh như: Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, Mấy năm được mùa, Cuộc bình văn trong nhà Giám,. Bên cạnh đó là các trang viết về các nhân vật lịch sử như Phạm Ngũ Lão, Phạm Tử Hư,.; các di tích lịch sử như đền thờ làng Tuấn Kiệt, đền Đế Thích,.; những sinh hoạt văn hoá thú vị như viết chữ, uống trà, âm nhạc, lễ tế giao, lễ cưới hỏi, ma chay v. Nhìn chung, tác phẩm có nội dung đa dạng, tư liệu lịch sử, văn hoá, xã hội phong phú, lối trình bày giản dị mà sinh động. Tác phẩm Thượng kinh kí sự (Kí sự lên kinh) của Lê Hữu Trác viết năm 1782, với nội dung tả lại quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa nơi phủ Chúa, những điều mắt thấy tai nghe trong chuyến tác giả đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm.

Tác phẩm mang giá trị hiện thực sâu sắc, đồng thời nổi bật hình ảnh tác giả - một thi nhân, một ẩn sĩ thanh cao, một danh y lỗi lạc đã đặt mình ngoài vòng cương toả của hai chữ công danh. Có thể nói, kí là một loại hình văn học phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự thời trung đại. Kí thu gộp tất cả những tác phẩm văn xuôi nằm trong văn học mang chức năng hành chính, lễ nghi cũng như chức năng thẩm mĩ. Về phương diện hình thức, nó gồm nhiều tiểu loại như kí sự, tuỳ bút, tạp lục, ngẫu lục,.

nhưng nhìn chung còn pha truyện. Kí tôn trọng hiện thực, bởi vậy kí trung đại Việt Nam nhìn chung đã ghi lại những biến động dữ dội của xã hội, nhất là thời đại suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam. Sang đến thời hiện đại, kí có một bước phát triển mới cả về nội dung lẫn hình thức, trở thành một thể loại thực sự vững chãi với tính đặc thù của nó. Cùng với các thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ ca., kí trở thành mảnh đất in dấu chân nhiều tác giả.

Văn học những năm đầu thế kỉ XX có thể kể đến: Phạm Quỳnh với Mười ngày ở Huế, Trảy chùa Hương; Nguyễn Đôn Phục với Du tử trầm sơn kí; Nguyễn Văn Vĩnh với Hương Sơn hành trình 483; Mai Khuê với Cuộc chơi trăng sông Nhuệ; Tản Đà với Xã hội thiển đàm và ba đào kí, Mấy 14 bước đường rừng v. Nhìn chung, trong không khí hiện đại hoá của nền văn học dân tộc, các tác phẩm kí cũng đa dạng hơn về nội dung và các tiểu loại kí. Trong thể loại này người ta thấy có phóng sự, kí sự, hồi kí, du kí, nhật kí, tuỳ bút, tiểu phẩm văn học,. Đặc biệt, ở giai đoạn khoảng từ năm 1930 đến năm 1945 - giai đoạn nền văn học nước nhà hoàn tất quá trình hiện đại hoá với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại - thể kí cũng gặt hái được nhiều thành tựu, khẳng định sự lớn mạnh của nó.

Trong thời kì văn học này, bút kí, tuỳ bút rất phát triển. Thạch Lam với Hà Nội băm sáu phố phường, Xuân Diệu với Trường ca, Nguyên Hồng với Cuộc sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ