Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km, diện tích vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1.000.000 km2 cùng hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Nằm trên tuyến hàng hải huyết mạch quốc tế nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, vùng biển nước ta có mật độ tàu thuyền vận tải và hoạt động khai thác dầu khí dày đặc. Theo ước tính của các tổ chức môi trường quốc tế, mỗi năm có khoảng 2,4 triệu tấn dầu đổ ra các đại dương, trong đó rò rỉ và sự cố từ phương tiện thủy chiếm tới 50% tổng lượng ô nhiễm dầu. Tại Việt Nam, từ năm 1987 đến năm 2008 đã ghi nhận hơn 90 sự cố tràn dầu nghiêm trọng; tiêu biểu như vụ tai nạn tàu Neptune Aries làm tràn 1.864 tấn dầu DO tại cảng Cát Lái hay đợt dầu tràn bí ẩn năm 2007 khiến 1.172 tấn dầu trôi dạt dọc bờ biển 20 tỉnh thành từ đảo Bạch Long Vĩ đến mũi Cà Mau.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là sự không tương thích và thiếu đồng bộ giữa hệ thống văn bản pháp luật quốc gia với các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường biển, đặc biệt là Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển từ tàu (MARPOL 73/78) mà Việt Nam là thành viên từ ngày 29/8/1991. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật và cơ chế thực thi, từ đó xác lập các định hướng hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng biển, hệ thống cảng biển Việt Nam và đội tàu mang cờ quốc gia trong giai đoạn từ khi gia nhập Công ước đến năm 2011. Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện khung pháp lý, hướng tới mục tiêu giảm thiểu 100% các hành vi xả thải dầu trái phép, nâng cao năng lực ứng phó sự cố cho hơn 340 giếng khoan dầu khí và kiểm soát tiêu chuẩn an toàn cho hơn 1.100 tàu biển thương mại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba nền tảng lý thuyết cốt lõi trong khoa học pháp lý và môi trường:

  1. Lý thuyết phát triển bền vững trong luật quốc tế: Khẳng định việc phát triển kinh tế hàng hải và công nghiệp dầu khí phải song hành với việc gìn giữ hệ sinh thái biển, dựa trên Điều 192 và Điều 193 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
  2. Nguyên tắc Pacta sunt servanda (Tận tâm thực hiện cam kết quốc tế): Buộc các quốc gia thành viên MARPOL 73/78 phải nội luật hóa đầy đủ các quy chuẩn kỹ thuật toàn cầu vào pháp luật quốc gia, không được viện dẫn sự thiếu sót của luật trong nước để trốn tránh nghĩa vụ.
  3. Nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle): Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại sinh thái và chi phí làm sạch môi trường của chủ tàu theo Công ước Trách nhiệm dân sự về tổn thất ô nhiễm dầu (CLC 1992).

Khung nghiên cứu làm rõ bốn khái niệm căn bản: môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển từ tàu, biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm và các nguồn thải kỹ thuật (nước la canh, nước dằn lẫn dầu, rác thải sinh hoạt và khí xả động cơ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), Hiệp hội Quốc tế của các Chủ tàu chở Dầu (ITOPF), Cục Hàng hải Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam và Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 1987-2010.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) khảo sát toàn diện 69 vụ tai nạn hàng hải năm 2009, hồ sơ kỹ thuật của 1.107 tàu vận tải biển Việt Nam và kết quả quan trắc chất lượng nước tại 10 cụm cảng trọng điểm. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp thống kê mô tả là nhằm đối chiếu trực tiếp khoảng cách giữa tiêu chuẩn quốc gia (QCVN 10:2008/BTNMT) với các phụ lục kỹ thuật của MARPOL 73/78, đồng thời rút tỉa bài học thực thi từ các quốc gia trong khu vực như Singapore và Trung Quốc. Timeline nghiên cứu bao quát dữ liệu thực tiễn 20 năm kể từ thời điểm Việt Nam phê chuẩn MARPOL 73/78.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng và cơ chế pháp lý làm nổi bật ba phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, 85% nguồn ô nhiễm dầu xuất phát từ hoạt động vận hành thường nhật của tàu biển (trong đó 46% do súc rửa hầm hàng và 22% do xả nước la canh, nước dằn không qua phân ly), trong khi tai nạn đâm va chỉ chiếm 15%. Tuy nhiên, các vụ tai nạn hàng hải lại mang tính tàn phá cục bộ cực kỳ nghiêm trọng: 100% các vụ tràn dầu dung tích trên 700 tấn đều bắt nguồn từ đâm va, mắc cạn của tàu chở dầu.

Thứ hai, nồng độ dầu tại 100% các vùng nước cảng biển Việt Nam được quan trắc đều vượt giới hạn quy định của QCVN 10:2008/BTNMT (0,2 mg/l) và vượt xa tiêu chuẩn ASEAN (0,14 mg/l). Cụ thể, nồng độ dầu tại cảng Hải Phòng đạt 0,42 mg/l, cảng Cái Lân đạt 0,60 mg/l đến 1,75 mg/l (gấp gần 9 lần tiêu chuẩn cho phép), và khu vực khai thác dầu khí Vietsovpetro lên tới 7,57 mg/l (vượt gần 38 lần quy chuẩn).

Thứ ba, đội tàu vận tải biển Việt Nam tăng trưởng nhanh từ 631 chiếc năm 2001 lên 1.107 chiếc năm 2004, nhưng cơ cấu kỹ thuật còn lạc hậu. Các tàu nhỏ công suất thấp xả ra tới 70% tổng lượng dầu thải chưa qua xử lý. Hệ thống tiếp nhận chất thải tại cảng (Port Reception Facilities) theo Phụ lục I của MARPOL 73/78 gần như chưa được đầu tư đồng bộ tại các cảng biển thương mại loại I và loại II.

Thảo luận kết quả

Thực trạng ô nhiễm dầu vượt chuẩn tại các vùng nước xuất phát từ sự chồng chéo, phân tán trong phân định thẩm quyền giữa Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Tài nguyên và Môi trường. Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được trình bày trực quan qua Bảng thống kê tai nạn hàng hải năm 2009 (ghi nhận 4 vụ đặc biệt nghiêm trọng, 13 vụ nghiêm trọng và 52 vụ ít nghiêm trọng với 24 vụ mắc cạn, 25 vụ đâm va) và Biểu đồ tỷ lệ nguyên nhân gây ô nhiễm biển của ITOPF (hỏng thiết bị chiếm 30,6%, hoạt động nhận trả dầu chiếm 26,7%).

So sánh với mô hình kiểm soát của Singapore (áp dụng chế tài phạt tiền không giới hạn và bắt buộc trang bị thiết bị ghi tự động) và Trung Quốc (phân cấp quản lý an toàn biển cho Cục Hải sự MSA), cơ chế thanh tra nhà nước cảng biển (PSC) của Việt Nam theo Thỏa thuận Tokyo MOU còn bộc lộ nhiều hạn chế về trang thiết bị đo đạc và thẩm quyền xử phạt. Mức bồi thường thiệt hại môi trường theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 và Bộ luật Hàng hải năm 2005 còn quá thấp, chưa tạo đủ sức răn đe để ngăn chặn hành vi xả thải lén lút vào ban đêm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các bất cập trên, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Nội luật hóa toàn diện các Phụ lục của MARPOL 73/78: Quốc hội và Chính phủ cần khẩn trương sửa đổi Bộ luật Hàng hải và Luật Bảo vệ Môi trường, chuyển hóa đầy đủ các quy định kỹ thuật của Phụ lục I đến Phụ lục VI thành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bắt buộc. Mục tiêu đặt ra là hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật chi tiết trong giai đoạn 2012-2015, quy định nồng độ dầu trong nước xả thải buồng máy không được vượt quá 15 phần triệu (15 ppm).
  2. Nâng cấp hạ tầng tiếp nhận chất thải tại 100% cảng biển: Bộ Giao thông Vận tải chủ trì ban hành quy chế bắt buộc mọi cảng biển loại I và bến cảng chuyên dùng dầu khí phải đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước dằn bẩn, nước la canh và rác thải nguy hại trước năm 2018. Chỉ tiêu đề ra là đạt tỷ lệ 100% chất thải từ tàu được thu gom và xử lý đạt chuẩn QCVN trước khi xả ra môi trường.
  3. Tăng cường năng lực thanh tra, giám sát nhà nước cảng biển (PSC): Cục Hàng hải Việt Nam tổ chức đào tạo chuẩn hóa 100% đội ngũ thanh tra viên hàng hải theo tiêu chuẩn Tokyo MOU; trang bị thiết bị viễn thám và thiết bị phân tích mẫu dầu nhanh. Mục tiêu là kiểm tra tối thiểu 85% lượt tàu nước ngoài cập cảng và giảm tỷ lệ tàu biển Việt Nam bị lưu giữ tại các cảng quốc tế xuống dưới 5% mỗi năm.
  4. Thiết lập cơ chế hợp tác ứng phó sự cố tràn dầu xuyên biên giới: Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn phối hợp với Bộ Ngoại giao mở rộng thỏa thuận song phương và đa phương, đẩy mạnh triển khai Chương trình khung Vịnh Thái Lan giữa Việt Nam, Campuchia và Thái Lan theo Quyết định 1278/QĐ-TTg, đảm bảo thời gian kích hoạt ứng cứu khẩn cấp dưới 60 phút cho toàn bộ vùng biển hơn 1.000.000 km2.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước: Cục Hàng hải Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam và các cơ quan thanh tra môi trường sử dụng tài liệu làm cơ sở xây dựng đề án hoàn thiện văn bản dưới luật, định mức xử phạt hành chính và quy trình kiểm tra an toàn kỹ thuật phương tiện.

Nhóm doanh nghiệp vận tải biển và chủ tàu: Các công ty vận tải biển áp dụng hướng dẫn để rà soát hệ thống quản lý an toàn (ISM Code), trang bị thiết bị lọc dầu 15 ppm, thiết lập Kế hoạch ứng cứu ô nhiễm dầu của tàu (SOPEP) theo Quy định 26 Phụ lục I và quản lý nhật ký dầu chuẩn xác.

Nhóm ban quản lý cảng biển và khu công nghiệp ven biển: Các đơn vị khai thác cảng tham khảo để xây dựng dự án đầu tư hệ thống tiếp nhận chất thải nổi, quy trình tiếp nhận cặn dầu và kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu tại vùng nước cảng.

Nhóm nghiên cứu và đào tạo học thuật: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Quốc tế, Luật Môi trường và Kinh tế Hàng hải sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế thực thi điều ước quốc tế đa phương.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chuẩn xả thải dầu từ buồng máy tàu biển theo MARPOL 73/78 được quy định như thế nào?
Theo Phụ lục I của MARPOL 73/78, tàu không phải tàu dầu có dung tích từ 400 RT trở lên chỉ được phép xả nước la canh khi đang hành trình ngoài vùng đặc biệt, có trang bị hệ thống phân ly dầu nước tự động ngắt và hàm lượng dầu trong dòng xả không vượt quá 15 phần triệu (15 ppm).

Hệ thống quản lý an toàn theo Bộ luật ISM có bắt buộc đối với tàu biển Việt Nam không?
Có. Bộ luật ISM là yêu cầu bắt buộc của Công ước SOLAS 1974 và MARPOL 73/78. Các công ty khai thác tàu phải thiết lập quy trình vận hành an toàn và bổ nhiệm người phụ trách an toàn nhằm ngăn ngừa 100% nguy cơ ô nhiễm từ lỗi thao tác của thuyền viên.

Vì sao nồng độ dầu tại các cảng biển Việt Nam thường vượt quy chuẩn QCVN 10:2008/BTNMT?
Nguyên nhân chủ yếu do 90% sự cố rò rỉ phát sinh trong quá trình nhận trả hàng và bơm nhiên liệu, kết hợp với việc thiếu hụt trạm tiếp nhận cặn dầu tại bờ, dẫn tới tình trạng nồng độ dầu tại cảng Cái Lân đạt 1,75 mg/l và Vietsovpetro đạt 7,57 mg/l.

Công ước CLC 1992 bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trong các sự cố tràn dầu như thế nào?
Công ước CLC 1992 thiết lập chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt của chủ tàu đối với mọi tổn thất ô nhiễm dầu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, cho phép cơ quan chức năng yêu cầu bồi thường toàn bộ chi phí dọn dẹp và phục hồi sinh thái dựa trên chứng thư bảo hiểm bắt buộc.

Các tàu biển có dung tích bao nhiêu bắt buộc phải có Kế hoạch ứng cứu ô nhiễm dầu (SOPEP)?
Theo Quy định 26 Phụ lục I MARPOL 73/78, mọi tàu dầu có tổng dung tích từ 150 RT trở lên và tất cả các loại tàu biển khác từ 400 RT trở lên bắt buộc phải có bản SOPEP được cơ quan đăng kiểm phê duyệt và lưu giữ thường trực trên tàu.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển, đặt trọng tâm vào 6 Phụ lục kỹ thuật của Công ước MARPOL 73/78.
  • Đánh giá chi tiết thực trạng ô nhiễm biển tại Việt Nam với số liệu thực nghiệm tại hơn 10 cảng biển trọng điểm và phân tích nguyên nhân từ 69 vụ tai nạn hàng hải năm 2009.
  • Chỉ rõ khoảng trống thể chế và sự thiếu hụt trang thiết bị kiểm soát kỹ thuật đối với hơn 1.100 tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và lộ trình thực thi đến năm 2020 nhằm nội luật hóa đầy đủ các cam kết quốc tế.
  • Khẳng định việc bảo vệ môi trường biển là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế biển bền vững cho hơn 1.000.000 km2 vùng đặc quyền kinh tế.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xây dựng mô hình liên kết giữa trách nhiệm pháp lý quốc gia và các chuẩn mực hàng hải quốc tế. Các cơ quan quản lý, hiệp hội chủ tàu và doanh nghiệp cảng biển cần chủ động phối hợp triển khai ngay các giải pháp nội luật hóa để bảo vệ tài nguyên biển cho tương lai.