MỞ ĐẦU Ẩn dữ liệu hay giấu tin ( Data hiding- DH) là một kĩ thuật đã không còn xa lạ với chúng ta, nó đã ra đời từ rất lâu trên thế giới. Việc ẩn dữ liệu nhằm mục đích che giấu thông tin bên trong một số tài liệu nhƣ văn bản, hình ảnh, âm thanh và phim v.v… DH khác với mã hóa ở một điểm là mã hóa tập trung vào việc giữ bí mật nội dung thong điệp, còn DH thì tập trung vào việc giữ bí mật sự tồn tại của thông điệp[1]. DH có thế mạnh hơn mã hóa khác chính là DH sẽ không thu hút sự chú ý của ngƣời xung quanh. Một thông điệp khi đƣợc mã hóa tinh vi đến mức nào cũng sẽ rất kích thích sự tò mò của mọi ngƣời và nhƣ thế ngƣời ta sẽ tìm cách giãi mã hoặc phá hủy nó.
Nhiều phƣơng pháp DH đang đƣợc nghiên cứu, mỗi phƣơng pháp có những ƣu điểm và nhƣợc điểm khác nhau, trong đó có thể kể tên một số phƣơng pháp nhƣ sử dụng các bit trọng số nhỏ, phƣơng pháp sử dụng các hệ số biến đổi… Nhƣng các bài toán đƣợc đặt ra hiện nay của các bài toán DH đó chính là làm sao nâng cao đƣợc tính bền vững, tính trong suốt, và khả năng lƣu trữ. Phƣơng pháp hiệu quả và đơn giản nhất để tăng dung lƣợng nhúng là sử dụng phƣơng pháp nén thông tin. Nén thông tin sẽ làm giảm các dữ liệu dƣ thừa và góp phần làm tăng hiệu quả cho việc mã hóa và giấu tin mật. Do vậy việc kết hợp các phƣơng pháp nén thông tin và giấu tin mật không những làm tăng dung lƣợng nhúng mà còn làm thông tin mật đƣợc bảo vệ thêm một lớp mới giúp tăng mức độ an toàn và tăng đƣợc tính vô hình của thông tin mật trong sản phẩm DH (ở luận văn này tôi chọn ẩn dữ liệu trong hình ảnh).
Vì vậy trong luận văn của mình, tôi trình bày về vấn đề nén thông tin mật Fractal trong các bài toán DH. NỘI DUNG CHƢƠNG I.1 Giấu tin Giấu tin [2] là giấu (hoặc nhúng) một lƣợng thông tin số vào trong đối tƣợng dữ liệu số khác. “Giấu tin” nhiều khi không phải chỉ hành động giấu theo nghĩa thông thƣờng, mà chỉ mang ý nghĩa quy ƣớc. giấu tin có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời, nó bắt nguồn từ Hi Lạp và đƣợc sử dụng cho tới ngày nay, chủ yếu phục vụ cho mục đích liên lạc bí mật.
Theo các tài liệu nghiên cứu ghi lại, kỹ thuật giấu tin cổ xƣa nhất và cũng là đơn giản nhất đƣợc nhắc tới trong các tài liệu là khi vua Histiaeus (khoảng năm 440 TCN) cạo sạch tóc xăm thông điệp lên da đầu và chờ khi tóc mọc lại, ngƣời nô lệ đó chuyển thông tin tới ngƣời nhận. Sau đó, ngƣời ta sử dụng các vật liệu tự nhiên nhƣ bảng gỗ, sáp ong, hổ phách cho việc giấu thông tin. Khi kỹ thuật phát triển hơn, con ngƣời sử dụng chữ viết với cỡ chữ nhỏ giấu trong các vật dụng hàng ngày (nhƣ các hộp, vali có hai đáy) để chuyển đi, hoặc dùng bồ câu để chuyển thông tin để che mắt các nhân viên an ninh, hải quan. Sang thế kỷ 17, ngƣời ta dùng cách đánh dấu vào các kí tự cần thiết trên một văn bản, một bài báo công khai nào đó rồi truyền tới tay ngƣời nhận.
Sau đó là thời kì phát triển rực rỡ của công nghệ hoá học với sản phẩm là mực không màu - là các chất lỏng sản phẩm hữu cơ không màu và hiển thị màu khi gặp điều kiện hoá - lý thích hợp. Tới ngày nay với phƣơng pháp kiểm tra độ ẩm bề mặt, mực không màu không còn tác dụng bảo mật nữa, nhƣng nó vẫn còn đƣợc dùng nhƣ một dạng thuỷ vân để in các block nhỏ hay các chi tiết phát quang khi bị chiếu tia cực tím. Trong nửa cuối thế kỉ 19, các vi phim là bƣớc phát triển kế tiếp, với sản phẩm hoàn hảo của các thợ ảnh chuyên nghiệp thì kích thƣớc của mỗi thông điệp “chỉ nhỏ nhƣ một dấu chấm”. Mục đích của giấu tin: Giấu tin phục vụ cho hai mục đích trái ngƣợc nhau: 3 - Bảo mật cho những dữ liệu đƣợc giấu trong đối tƣợng chứa.
- Bảo đảm an toàn (bảo vệ bản quyền) cho chính đối tƣợng chứa dữ liệu giấu trong đó. Hai mục đích giấu tin phát triển thành hai lĩnh vực với yêu cầu và tính chất khác nhau : - Kỹ thuật giấu thông tin bí mật (Steganography): với mục đích đảm bảo an toàn và bảo mật thông tin tập trung vào các kỹ thuật giấu tin để có thể giấu đƣợc nhiều thông tin nhất. Thông tin mật đƣợc giấu kỹ trong một đối tƣợng khác sao cho ngƣời khác không phát hiện đƣợc. -Kỹ thuật giấu thông tin theo kiểu đánh giấu (watermarking): để bảo vệ bản quyền của đối tƣợng chứa thông tin tập trung đảm bảo một số các yêu cầu nhƣ đảm bảo tính bền vững… đây là ứng dụng cơ bản nhất của kỹ thuật thuỷ vân số.
Hai kỹ thuật này đều giống nhau ở một điểm là có ba đối trƣợng tham gia chính đó là đối tƣợng chứa hay còn gọi là đối tƣợng trƣớc khi nhúng (C), đối tƣợng cần đƣợc nhúng (M), và đối tƣợng cuối là đối tƣợng sau khi nhúng (S). Sự khác biệt của hai kỹ thuật này cũng dựa vào ba đối tƣợng này chính là Bảng 1. 1khác biệt cơ bản giữa Steganography và Watermarking Steganography Watermarking Đối tượng (C) Là trung chuyển hay vật che Là vật chủ hay đối tƣợng chƣa đánh dấu chắn cần đƣợc bảo vệ Đối tượng (M) Là đối tƣợng thông tin mật Là tín hiệu vân hay thông tin bản quyền cần đƣợc bảo vệ Đối tượng (S) Là vật chứa thông tin mật Là tín hiệu đã thủy vân hay đối tƣợng đã mang thông tin bản quyền. 4 Phân loại kỹ thuật giấu tin Có nhiều cách để tiến hành phân loại các phƣơng pháp giấu thông tin theo các tiêu chí khác nhau[2] nhƣ theo các phƣơng tiện chứa tin, các phƣơng pháp tác động lên phƣơng tiện chứa tin, hay phân loại theo các ứng dụng cụ thể v.v… Phƣơng pháp ẩn dữ liệu Dựa trên miền không Dựa trên miền biến đổi Dựa trên miền đặc tính gian (spatial domain) (transform domain) Miền Fourier Miền không Thay thế bit ít DFT gian quan trọng nhất (LSB) Miền Wavelet DWT Miền biến đổi Trải phổ Miền Cosin (Spread DCT Spectrum) Miền Sin DFRST …….
1 Mô hình phân loại theo miền nhúng 5 a. Phân loại theo miền nhúng Với nhóm phƣơng pháp làm việc trên miền không gian, các thao tác đƣợc thực hiện trực tiếp trên các pixel hay samples. Khi đó thông tin cần nhúng M sẽ đƣa vào đối tƣợng chứa C bằng cách thay đổi trực tiếp các giá trị của các pixel hay samples. Với phƣơng pháp này dễ thực hiện, cho dung lƣợng cao nhƣng không bền vững với nhiều thao tác tấn công.
Vơi nhóm các phƣơng pháp tiến hành trong miền biế đổi cho khả năng chống tấn công tốt cũng nhƣ đảm bảo tính vô hình, tuy nhiên độ phứ tạp của thuật toán nhúng và trích cao.Phân loại theo phương tiện chứa tin - Giấu thông tin trong ảnh: Hiện nay giấu thông tin trong ảnh là một bộ phận chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các chƣơng trình ứng dụng, các phần mềm, hệ thống giấu tin trong đa phƣơng tiện bởi lƣợng thông tin đƣợc trao đổi bằng ảnh là rất lớn và hơn nữa giấu thông tin trong ảnh cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong hầu hết các ứng dụng bảo vệ an toàn thông tin nhƣ: nhận thực thông tin, xác định xuyên tạc thông tin, bảo vệ bản quyền tác giả…Thông tin sẽ đƣợc giấu cùng với dữ liệu ảnh nhƣng chất lƣợng ảnh ít thay đổi và chẳng ai biết đƣợc đằng sau ảnh đó mang những thông tin có ý nghĩa. Ngày nay khi ảnh số đã đƣợc sử dụng rất phổ biến thì giấu thông tin trong ảnh đã đem lại nhiều những ứng dụng quan trọng trên các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Ví dụ nhƣ ở các nƣớc phát triển chữ ký tay đã đƣợc số hoá và lƣu trữ sử dụng nhƣ là hồ sơ cá nhân của các dịch vụ ngân hàng tài chính. Phần mềm WinWord của Microsoft cũng cho phép ngƣời dùng lƣu trữ chữ ký trong ảnh nhị phân rồi gắn vào vị trí nào đó trong file văn bản để đảm bảo tính an toàn của thông tin.
- Giấu thông tin trong các file âm thanh: Giấu thông tin trong audio mang những đặc điểm riêng khác với giấu thông tin trong các đối tƣợng đa phƣơng tiện khác. Một trong những yêu cầu cơ bản của giấu tin 6 là đảm bảo tính chất ẩn của thông tin đƣợc giấu đồng thời không làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng của dữ liệu. Để đảm bảo yêu cầu này ta lƣu ý rằng kỹ thuật giấu thông tin trong ảnh phụ thuộc vào hệ thống thị giác của con ngƣời – HSV (Human Vision System) còn kỹ thuật giấu thông tin trong audio lại phụ thuộc vào hệ thống thính giác HAS (Human Auditory System). Một vấn đề khó khăn ở đây là hệ thống thính giác của con ngƣời nghe đƣợc các tín hiệu ở các giải tần rộng và công suất lớn nên đã gây khó dễ đối với các phƣơng pháp giấu tin trong audio.
Nhƣng tai con ngƣời lại kém trong việc phát hiện sự khác biệt của các giải tần và công suất, có nghĩa là các âm thanh to, cao tần có thể che giấu đƣợc các âm thanh nhỏ thấp một cách dễ dàng. Vấn đề khó khăn thứ hai đối với giấu tin trong audio là kênh truyền tin, kênh truyền hay băng thông chậm sẽ ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin sau khi giấu. Giấu thông tin trong audio đòi hỏi yêu cầu rất cao về tính đồng bộ và tính an toàn của thông tin. Các phƣơng pháp giấu thông tin trong audio đều lợi dụng điểm yếu trong hệ thống thính giác của con ngƣời.
- Giấu thông tin trong video: Cũng giống nhƣ giấu thông tin trong ảnh hay trong audio, giấu tin trong video cũng đƣợc quan tâm và đƣợc phát triển mạnh mẽ cho nhiều ứng dụng nhƣ điều khiển truy cập thông tin, nhận thức thông tin, bản quyền tác giả… 7 Một phƣơng pháp giấu tin trong video đƣợc đƣa ra bởi Cox là phƣơng pháp phân bố đều. Ý tƣởng cơ bản của phƣơng pháp là phân phối thông tin giấu dàn trải theo tần số của dữ liệu gốc. Nhiều nhà nghiên cứu đã dùng những hàm cosin riêng và các hệ số truyền sóng riêng để giấu tin. Trong các thuật toán khởi nguồn thì thƣờng các kỹ thuật cho phép giấu các ảnh vào trong video nhƣng thời gian gần đây các kỹ thuật cho phép giấu cả âm thanh và hình ảnh vào video.