Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ CỦA HỌC SINH LỨA TUỔI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (16 - 18 TUỔI) Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (16-18 tuổi) thuộc thời kỳ đầu của tuổi thanh niên. Sự phát triển thể chất đang hoàn chỉnh, cho thấy sự trưởng thành rõ rệt từ một đứa trẻ thành một người lớn.
Những thay đổi này có thể thấy qua việc thay đổi tâm sinh lý, tư duy, trí tuệ, nhân cách ứng xử với mọi người và sự hình thành hệ thống thế giới quan. Trong quá trình sống, có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này [35]. Sự thay đổi về mặt tâm lý và thế giới quan Giai đoạn tuổi thanh niên là thời kỳ mà cơ thể của các em đang dần đạt được sự trưởng thành hoàn chỉnh về cơ thể, hầu như sự khác biệt giữa cơ thể của các em và người trưởng thành không đáng kể. Đây là thời kỳ trưởng thành về mặt giới tính.
Đa số các em đã qua thời kỳ hoàn thiện cơ quan sinh sản và chấm dứt sự khủng hoảng của thời kỳ dậy thì để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn. Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển hoàn thiện hơn. Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não của người lớn. Số lượng dây thần kinh liên hợp, liên kết các phần khác nhau của vỏ não tăng lên.
Điều này tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động tư duy phân tích, tổng hợp… của vỏ bán cầu đại não trong quá trình lao động và học tập. Sự phát triển về tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển về tâm lý của thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên. Sự phát triển tự ý thức của thanh niên mới lớn có những đặc điểm cơ bản sau [29]. Các em chú ý hơn về ngoại hình của mình; Có quan điểm về mục đích 5 sống và hoài bão của mình; Tự ý thức được những đặc điểm nhân cách của mình; Tự nhận thức trách nhiệm của bản than đối với gia đình và các mối quan hệ xung quanh cũng như cái tôi của mình… Biểu hiện đặc trưng của thanh niên mới lớn là nhận thức được những đặc điểm và những phẩm chất của mình trong xã hội, trong cộng đồng.
Ở mức cao hơn, đó là khả năng tự đánh giá, tự giáo dục bản thân theo những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lý và đạo đức. Ở lứa tuổi này, do có sự tích luỹ một hệ thống kiến thức, kỹ năng, lối sống, hành vi…, do có sự phát triển tương đối cao về mặt trí tuệ nên các em đã hiểu được và hệ thống hoá những khái niệm trừu tượng, những quy luật trong tự nhiên, xã hội. Các em còn có nhu cầu đưa những tiêu chuẩn, những nguyên tắc hành vi vào một hệ thống hoàn chỉnh để từ đó hình thành hệ thống quan điểm riêng. Sự hình thành thế giới quan ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông được thể hiện ở tính tích cực nhận thức.
Một vấn đề quan trọng cần bàn tới trong thế giới quan của học sinh trung học phổ thông là việc chọn vị trí xã hội tương lai cho bản thân và phương thức đạt đến vị trí xã hội của chính mình mình [29]. Sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT 1. Tri giác Ở thời kỳ này con người có độ nhạy cảm cao nhất về nhìn và nghe, có sự phối hợp nhịp nhàng nhất giữa các cơ quan vận động. Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao.
Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn. Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách rời khỏi tư duy ngôn ngữ. Các em có thể điều khiển được hoạt động của mình theo kế hoạch chung và chú ý đến tất cả mọi khâu. Tuy vậy, quan sát của các em khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên.
Giáo viên cần quan tâm để hướng quan sát của các em vào một nhiệm 6 vụ nhất định, không vội vàng kết luận khi chưa tích luỹ đầy đủ các sự kiện cần quan sát [29]. Trí nhớ Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ của học sinh trung học phổ thông. Loại trí nhớ này được hoàn thiện dần trong quá trình rèn luyện có thệ thống của cá nhân: càng học tập và rèn luyện tích cực, trí nhớ càng tốt và càng dễ nhớ những kiến thức mới [29]. Chú ý Chú ý của học sinh trung học phổ thông cũng có những thay đổi như trí nhớ của các em.
Thái độ có lựa chọn của học sinh đối với các môn học quyết định tính lựa chọn của chú ý. Các em đã có kỹ năng vừa nghe giảng, vừa ghi chép bài, vừa theo dõi câu trả lời của bạn… Có thể thấy tính có lựa chọn của chú ý và tính ổn định của tuổi này phát triển cao hơn hẳn so với lứa tuổi khác [29]. Tư duy Do cấu trúc não phức tạp và chức năng của não phát triển, do sự phát triển của các quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của học sinh trung học phổ thông có thay đổi quan trọng về chất. Hoạt động tư duy của các em tích cực, độc lập hơn.
Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học ở trường hoặc chưa được học ở trường. Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn. Cấu trúc trí tuệ của các em có tính phức tạp và phân hoá rõ rệt so với lứa tuổi trước. Các kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình phân hoá các năng lực trí tuệ của các em trai được bắt đầu sớm hơn, lộ rõ hơn so với các em gái.
Các em trai thường học giỏi các môn khoa học tự nhiên hơn các em gái, còn các em gái học tốt các môn khoa học xã hội và nhân văn, ngôn ngữ hơn các em 7 trai. Tóm lại, sự phát triển trí tuệ của học sinh trung học phổ thông đã đạt ở mức độ cao và đang được hoàn thiện dần trong quá trình học tập. Càng lên các lớp cuối cấp, năng lực trí tuệ ngày càng phát triển. Điều này tạo cơ hội cho khả năng tư duy độc lập, tư duy khái quát hoá, trừu tượng hóa, tư duy sáng tạo, chuẩn bị cho việc học lên cao, học nghề và bước vào đời của các em [29].
NĂNG LỰC TRÍ TUỆ VÀ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC TRÍ TUỆ 1. Chỉ số thông minh IQ ( Intelligent Quotient) Trí tuệ là hoạt động tâm sinh lí phức tạp bao gồm khả năng nhận thức, ngôn ngữ vận động và khả năng thích ứng với xã hội, là một trong những đặc điểm tư duy mà chỉ có con người mới có. Trí tuệ có thể đánh giá qua chỉ số thông minh IQ là một tính trạng số lượng được dùng để định giá trị thông minh của một người. IQ là ký hiệu lấy hai chữ cái đầu của từ tiếng Anh là “Intelligence Quotient”, thường dịch là thương số trí tuệ hay còn gọi là chỉ số thông minh.
Chỉ số này của mỗi người nói lên năng lực trí tuệ của người đó hay sự thông minh của mỗi người [40]. IQ là một chỉ số có tính tương đối: Người ta thấy rằng chỉ số IQ thay đổi rất lớn khi đang trong thời kỳ thiếu niên (dưới 16 tuổi) và chỉ số IQ được đo ở thời kỳ này có tính tin cậy không cao. Chỉ số này dần ổn định khi qua 16 tuổi, tại độ tuổi từ 16-20 IQ vẫn tiếp tục có xu hướng biến động dù không nhiều. Một người thường đạt được chỉ số IQ cao nhất vào độ tuổi 20-30 và sau đó chỉ số này thường có xu hướng giảm dần.
Tại mỗi cách kiểm tra, IQ của một người lại có giá trị khác nhau đôi khi khoảng cách là đáng kể. Hiện nay trên thế giới tồn tại ba loại trắc nghiệm IQ chính: Các bài trắc nghiệm công bằng giữa các nền văn hóa Culture Fair IQ 8 test, giúp cho việc xác định và nghiên cứu giữa các cá nhân và cộng đồng ở các nước, nền văn hóa, ngôn ngữ khác nhau được công bằng và chính xác nhất. Các bài trắc nghiệm nổi tiếng gồm có Cattell Culture Fair III, Raven's Progressive Matrices. Các bài trắc nghiệm IQ một cách tổng quát bao gồm cả kiến thức, trí nhớ, ngôn ngữ, tính toán về số học, không gian.
Những bài trắc nghiệm nổi tiếng là Wechsler Adult Intelligence Scale -WAIS, Standford-Binet V. Các bài trắc nghiệm nhằm mục đích xác định chỉ số IQ của những người có chỉ số này cao High range IQ test. Thông thường các bài trắc nghiệm này dùng cho những người có IQ cao trên 130 với SD15, 132 với chuẩn SD16 và 148 với chuẩn SD24. Những bài kiểm tra IQ hiện đại đánh giá con người ở những lĩnh vực khác nhau (ngôn ngữ, logic, trí tưởng tượng ba chiều,.
) với số điểm chung là tổng của tất cả những phần trên. Những nhà khoa học cho rằng phân tích kết quả của một cá nhân trên những phần khác nhau trong một bài kiểm tra IQ (ví dụ: Stanford-Binet, WISC-R, Raven's Progressive Matrices,.) sẽ cho thấy tất cả đều thể hiện các yếu tố: Yếu tố chung (yếu tố g) và các yếu tố riêng khác dựa trên từng bài kiểm tra. Thông thường chỉ số g và IQ gần bằng nhau (sai số khoảng 10%) và có thể sử dụng lẫn cho nhau [40]. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của học sinh 1.
Di truyền Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng trí tuệ của con người chịu ảnh hưởng khá lớn bởi yếu tố di truyền, sự phát triển trí tuệ của trẻ phụ thuộc vào một phần hệ gen được thừa hưởng từ bố mẹ [54]. Môi trường Yếu tố môi trường đóng vai trò rất lớn trong nhiệm vụ xác định trí thông minh trong một số trường hợp. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý trong lúc nhỏ 9 được cho là rất quan trọng; sự dinh dưỡng kém có thể làm suy giảm trí thông minh.