Năng Lực Cạnh Tranh Của Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam Sau Sáp Nhập Và Mua Lại

Luận án phân tích năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập và mua lại, cung cấp cái nhìn sâu sắc về thị trường tài chính.

Chuyên ngành

Tài chính Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

190
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam sau quá trình sáp nhập và mua lại (M&A). Cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu trong ngành ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, cạnh tranh trong ngành ngân hàng cần được quản lý chặt chẽ để tránh các rủi ro hệ thống. Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng sau M&A, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.

1.1. Lý do lựa chọn đề tài

Cạnh tranh trong ngành ngân hàng là yếu tố quan trọng để phát triển bền vững. Tuy nhiên, sau quá trình sáp nhập và mua lại, các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức như năng lực tài chính thấp, công nghệ yếu, và quản trị chưa hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng sau M&A.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam sau M&A. Cụ thể, nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng và lượng hóa mức độ tác động của chúng đến năng lực cạnh tranh.

II. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết về sáp nhập và mua lạinăng lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng. Các khái niệm về sáp nhập ngân hàng, mua lại ngân hàng, và cạnh tranh tài chính được phân tích kỹ lưỡng. Nghiên cứu cũng tổng hợp các nghiên cứu trước đây về năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sau M&A.

2.1. Lý thuyết về sáp nhập và mua lại

Sáp nhập và mua lại là quá trình kết hợp hai hoặc nhiều ngân hàng thành một thực thể duy nhất. Quá trình này nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần, và nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, việc thực hiện M&A cần được quản lý chặt chẽ để tránh các rủi ro tiềm ẩn.

2.2. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của ngân hàng được đo lường thông qua các yếu tố như năng lực tài chính, công nghệ, quản trị, và chất lượng dịch vụ. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá các yếu tố này sau quá trình M&A.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích dữ liệu. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam sau M&A trong giai đoạn 2011-2018. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh.

3.1. Dữ liệu và phương pháp thu thập

Dữ liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 8 ngân hàng thương mại Việt Nam sau M&A. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát với các nhà quản lý và chuyên gia trong ngành ngân hàng.

3.2. Phương pháp phân tích

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) được sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh. Phương pháp hồi quy được sử dụng để lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố này.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau quá trình sáp nhập và mua lại, các ngân hàng thương mại Việt Nam có sự gia tăng đáng kể về tổng tài sản, nguồn vốn huy động, và lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, một số ngân hàng vẫn đối mặt với vấn đề nợ xấu. Phân tích hồi quy cho thấy các nhân tố như năng lực tài chính, công nghệ, và uy tín ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh.

4.1. Thực trạng năng lực cạnh tranh

Sau M&A, các ngân hàng thương mại Việt Nam như SHB, HDBank, và BIDV có sự gia tăng về tổng tài sản và lợi nhuận. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu vẫn là thách thức đối với một số ngân hàng.

4.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy năng lực tài chính, công nghệ, và uy tín ngân hàng là các nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng sau M&A.

V. Kết luận và giải pháp

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam sau M&A, bao gồm nâng cao năng lực tài chính, công nghệ, và quản trị. Các giải pháp này nhằm giúp các ngân hàng duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

5.1. Giải pháp nâng cao năng lực tài chính

Các ngân hàng cần tăng cường nguồn vốn tự có và quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả để nâng cao năng lực tài chính.

5.2. Giải pháp nâng cao công nghệ

Đầu tư vào công nghệ hiện đại và hệ thống quản lý thông tin là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng sau M&A.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại việt nam sau sáp nhập và mua lại ma

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3. Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4.

Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết sáp nhập và mua lại 2. Khái niệm sáp nhập và mua lại Mergers and Acquisitions (gọi tắt là M&A) là cụm từ tiếng Anh, được dịch ra nghĩa tiếng Việt là “sáp nhập và mua lại”, hoặc “mua lại và sáp nhập”, “mua bán và sáp nhập” hay “thâu tóm và hợp nhất”, để chỉ hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua bán doanh nghiệp.

Đây cũng là một thuật ngữ chưa đồng nhất mới xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1990, tuy nhiên đối với thế giới nó có một lịch sử ra đời khá lâu dài, tồn tại và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. Trong từ điển Oxford, Sáp nhập (Mergers) là sự kết hợp của hai hoặc nhiều công ty để tạo ra một công ty mới duy nhất có quy mô lớn hơn. Sáp nhập thường do sự tự nguyện của các bên tham gia. Còn mua lại (Acquisitions) là việc một công ty mua lại một công ty khác.

Thông thường một công ty lớn hơn sẽ mua lại công ty nhỏ hơn (Truy cập Website 2017). Nayak thì “Mua lại là một hành động kiểm soát hiệu quả của một công ty đối với tài sản (mua tài sản, mua cổ phiếu, giành quyền kiểm soát thông qua hội đồng quản trị) của một công ty khác mà không cần sự kết hợp hay thống nhất về mặt tổ chức” (Mallikajiunappa, T. Theo Ransariya, Shailesh N. thì “Sáp nhập là từ được viết tắt bởi các chữ cấu tạo nên bản thân từ Merger đó là: M - Mixing (pha trộn), E - Entity (thực thể, chủ thể), R- Recourse for (nguồn lực cho), G- Growth (tăng trưởng), E- Enrichment (làm giàu thêm), R-Renovation (đổi mới).

Còn một vụ mua lại có thể được định nghĩa như là một hành động có được sự kiểm soát hiệu quả của một công ty đối với tài sản của một công ty khác mà không cần bất kỳ sự kết hợp của các công ty nào khác” (Ransariya & Shailesh N 2010). Theo từ điển các khái niệm thuật ngữ tài chính Investopedia: Sáp nhập (Mergers) xảy ra khi hai công ty thường có cùng quy mô đồng ý tiến đến thành lập một công ty mới duy nhất, hơn là việc duy trì hai công ty hoạt động riêng rẽ. Chứng khoán của hai công ty này sẽ bị xóa bỏ và chứng khoán của công ty mới được phát hành sẽ thay thế chúng. Mua lại (Acquisitions) là hoạt động thông qua đó các công ty tìm kiếm lợi ích kinh tế nhờ quy mô, hiệu quả và tăng cường khả năng chiếm lĩnh thị trường.

Khác với sáp nhập, 6 mua lại liên quan đến việc một công ty tiến hành mua công ty khác mà không có sự thay đổi cổ phiếu hay hợp nhất thành công ty mới. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014, khái niệm sáp nhập, hợp nhất được định nghĩa như sau: Sáp nhập doanh nghiệp: Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, quyền lợi và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Hợp nhất doanh nghiệp: Hai hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất. Tuy nhiên các khái niệm trên cũng chưa được nêu rỏ ràng, theo Điều 152, 153- Luật Doanh nghiệp đã đưa ra khái niệm về “sáp nhập”, “hợp nhất”, với quan điểm cho rằng các tổ chức tín dụng (TCTD) đều là “công ty cùng loại” có thể sáp nhập, hợp nhất với nhau nên mở ra hướng quy định khái niệm cụ thể hơn như sau: Sáp nhập TCTD là hình thức một hoặc một số TCTD (sau đây gọi là TCTD bị sáp nhập) sáp nhập vào một TCTD khác (sau đây gọi là TCTD nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của TCTD bị sáp nhập; Hợp nhất TCTD là hình thức hai hoặc một số TCTD (sau đây gọi là TCTD bị hợp nhất) hợp nhất thành một TCTD mới (sau đây gọi là TCTD hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các TCTD bị hợp nhất.

Theo Luật cạnh tranh năm 2014, tại Điều 17, Mục 3, Chương 2 các khái niệm này được định nghĩa như sau: Sáp nhập doanh nghiệp: là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Hợp nhất doanh nghiệp: là việc hai hay nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập; 7 2. Khái niệm ngân hàng thương mại sau sáp nhập và mua lại Theo Quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11 tháng 2 năm 2010 của Thống đốc NHNN Việt Nam): Sáp nhập tổ chức tín dụng: là hình thức mà một hay một số TCTD (sau đây gọi là TCTD bị sáp nhập) sáp nhập vào một TCTD khác (sau đây gọi là TCTD nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của TCTD bị sáp nhập. Hợp nhất tổ chức tín dụng: là hình thức mà hai hay một số TCTD (sau đây gọi là TCTD bị hợp nhất) hợp nhất thành một TCTD mới (sau đây gọi là TCTD hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các TCTD bị hợp nhất.

Mua lại tổ chức tín dụng: là hình thức mà một TCTD (sau đây gọi là TCTD mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của TCTD khác (sau đây gọi là TCTD bị mua lại). Sau khi mua lại, TCTD bị mua lại trở thành công ty trực thuộc TCTD mua lại. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả đưa ra khái niệm NHTM sau M&A theo Thông tư 04/2010/TT-NHNN, để lựa chọn ra các NHTM và giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án. Các phương thức thực hiện sáp nhập và mua lại ngân hàng thương mại Theo các thương vụ M&A trên thế giới thì có các phương thức thực hiện M&A ngân hàng phổ biến sau: Thương lượng tự nguyện: khi cả hai ngân hàng đều nhận thấy lợi ích chung tiềm tàng của thương vụ sáp nhập hoặc họ dự đoán được tiềm năng phát triển vượt trội của ngân hàng sau sáp nhập, ban điều hành sẽ ngồi lại với nhau để thương thảo hợp đồng sáp nhập.

Có những ngân hàng nhỏ và yếu trong thời kỳ khủng hoảng của nền kinh tế đã tự động tìm đến các ngân hàng lớn hơn để đề nghị sáp nhập. Đồng thời các ngân hàng trung bình cũng tìm kiếm cơ hội sáp nhập lại với nhau để tạo thành ngân hàng lớn hơn mạnh hơn đủ sức vượt qua những khó khăn của thời kỳ khủng hoảng và nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng lớn hơn. Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán: ngân hàng có ý định mua lại tiến hành thu gom dần cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc nhận chuyển nhượng của các nhà đầu tư chiến lược, các cổ đông nhỏ lẻ. Khi việc thu gom cổ phiếu của ngân hàng mục tiêu đủ khối 8 lượng cần thiết để triệu tập cuộc họp đại hội đồng cổ đông bất thường thì ngân hàng thu mua yêu cầu họp và đề nghị mua hết số cổ phiếu còn lại của các cổ đông.

Cách thức này đòi hỏi thời gian dài, hơn nữa nếu để lộ ý định ra bên ngoài thì giá cổ phiếu của ngân hàng mục tiêu sẽ có thể tăng vọt trên thị trường. Ngược lại, nếu cách thức này được diễn ra dần dần và trôi chảy, ngân hàng mua lại có thể đạt được mục tiêu của mình một cách êm thấm mà không gây xáo động lớn cho ngân hàng mục tiêu. Chào thầu: một ngân hàng có ý định mua lại toàn bộ ngân hàng mục tiêu thì phải đề nghị cổ đông hiện hữu của ngân hàng này bán lại cổ phiếu của họ với giá cao hơn giá thị trường rất nhiều. Giá chào thầu đó phải đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũng như quản lý ngân hàng mình.

Hình thức chào thầu thường áp dụng trong các vụ thôn tính mang tính thù địch đối thủ cạnh tranh. Ngân hàng mục tiêu thường là ngân hàng yếu hơn. Các ngân hàng mua lại theo hình thức này thường huy động nguồn tiền bằng cách: (a) sử dụng thặng dư vốn; (b) huy động vốn từ cổ đông hiện hữu, thông qua phát hành cổ phiếu mới hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành trái phiếu chuyển đổi; (c) vay từ các TCTD. Mua tài sản: Phương thức này cũng gần tương tự như phương thức chào thầu.

Ngân hàng thu mua có thể đơn phương hoặc cùng ngân hàng mục tiêu định giá tài sản của ngân hàng đó. Sau đó các bên sẽ thương thảo để đưa ra các mức giá phù hợp. Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc nợ. Điểm hạn chế của phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, thị phần, hệ thống khách hàng, nhân sự, văn hóa doanh nghiệp rất khó được định giá và được các bên thống nhất.

Lôi kéo cổ đông bất mãn: phương thức này cũng thường được sử dụng trong các thương vụ thôn tính mang tính thù địch. Khi lâm vào tình cảnh kinh doanh yếu kém và thua lỗ, luôn có một bộ phận không nhỏ cổ đông bất mãn và muốn thay đổi ban quản trị và điều hành ngân hàng mình. Ngân hàng có lợi thế cạnh tranh có thể lợi dụng tình hình này để lôi kéo bộ phận cổ đông đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập và mua lại là một tài liệu chuyên sâu phân tích tác động của các hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về cách các ngân hàng tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường vị thế trên thị trường sau các thương vụ M&A. Đồng thời, nó cũng chỉ ra những thách thức và cơ hội mà các ngân hàng phải đối mặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, nhà đầu tư và những ai quan tâm đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam.

Để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế và tài chính Việt Nam, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ ảnh hưởng tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát và hoạt động can thiệp trung hòa của ngân hàng nhà nước Việt Nam, nghiên cứu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về vai trò của dự trữ ngoại hối và chính sách tiền tệ. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa nghiên cứu tại Việt Nam cung cấp góc nhìn về các yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp thương mại dầu khí tại Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc tài chính trong một ngành công nghiệp then chốt của Việt Nam.