CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Theo Michael Porter (2006), năng lực được hiểu là khả năng làm tốt một việc nào đó, khả năng kinh doanh có hiệu quả nhất trong một lĩnh vực hoặc theo một phương thức nào đó. Nói cách khác năng lực là sở trường, là thế mạnh của công ty. Năng lực của một công ty là khả năng mà công ty đó có thể làm tốt, nhưng phải đồng thời thỏa mãn 3 điều kiện: Khả năng đó đem lại lợi ích cho khách hàng, khả năng đó đối thủ cạnh tranh khó bắt chước, có thể vận dụng khả năng đó để mở rộng cho nhiều sản phẩm và thị trường khác. Năng lực cạnh tranh xét trên các cấp độ quốc gia, công ty và sản phẩm.
Hoàng Thị Thanh Hằng (2012) cho rằng khi nói về năng lực cạnh tranh của Công ty thì có nhiều lý thuyết đề cập, sau đây là một số quan điểm bàn về năng lực cạnh tranh của công ty. Lý thuyết năng lực cạnh tranh của Michael Porter Michael Porter đã viết hai cuốn sách rất nổi tiếng là “Chiến lược cạnh tranh” (2006) và “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (2008). Ông cho rằng, nếu một công ty chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm thi không đảm bảo cho sự thành công lâu dài. Một công ty cần xây dựng một lợi thế cạnh tranh bền vững.
Michael Porter đã đề xuất mô hình 5 tác lực. Ông cho rằng trong bất cứ ngành nghề kinh doanh nào cũng có 5 yếu tố tác động, đó là: sự cạnh tranh giữa các công ty đang tồn tại; mối đe dọa về việc một đối thủ mới tham gia vào thị trường; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nguy cơ có các sản phẩm thay thế; vay trò của các công ty bán lẻ và cuối cùng là nhà cung cấp đầy quyền lực. Michael Porter cũng đã đề xuất 3 chiến lược để vượt qua 5 tác lực như trên. Đó là chiến lược chi phí thấp nhất, chiến lược khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ và chiến lược tập trung vào một phân khúc thị trường nhất định.
Chiến lược chi phí thấp nhất, được áp dụng phổ biến vào những năm 1970 và hướng tới trả lời câu hỏi làm sao mức chi phí thấp nhất trong ngành. Phí tổn thấp sẽ đem lại cho công ty lợi nhuận trên mức trung bình, dù trong ngành đã có sự hiện diện của các tác động cạnh tranh mạnh mẽ. Phân khúc thị trường mà công ty thường hướng đến thường là những khách hàng hết sức nhạy cảm về giá. Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm dịch vụ nhằm tạo ra những sản phẩm có tính độc đáo.
Khác biệt hóa sản phẩm dịch vụ đem lại lợi nhuận trên lức trung bình cho công ty vì tạo nên hệ thống phòng vệ tốt , từ đó giúp công ty đối phó với 5 tác lực cạnh tranh của thị trường. Chiến lược tập trung vào phân khúc thị trường hẹp: Michael Porter cho rằng việc chiếm được một thị phần lớn không đồng nghĩa với việc thu được nhiều lợi nhuận hơn. Cơ sở của chiến lược này là, do tập trung vào thị trường cụ thể, nên công ty có khả năng phục vụ mục tiêu chiến lược của mình tốt hơn, hiệu quả hơn so với các công ty khác đang phải cạnh tranh trong phạm vi rộng. Các quan điểm khác: + Quan điểm của Paul Krugman Ông là tác giả của lý thuyết hiện đại về thương mại toàn cầu, đã có những lý luận phản biện Michael Porter.
Ông đã chứng minh “lợi thế so sánh” không phải năng lực cạnh tranh. Ông cho rằng nổi ám ảnh về năng lực cạnh tranh có thể làm cho quốc gia bị lạc hướng, ưu tiên nguồn lực cho những công trình chưa cần thiết, trong khi phải dành nguồn lực cho những dự án quan trọng, cần thiết hơn. + Quan điểm Gary Hamel Tác giả của cuốn sách “ Cạnh tranh đón đầu tương lai” (1995) không hoàn toàn đồng ý với Michael Porter. Ông cho rằng, bản chất của sự cạnh tranh đã thay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cạnh tranh hiện nay là cuộc chiến giành cơ hội xuất hiện trong tương lai. Không thể dùng sơ đồ “5 tác lực cạnh tranh” của Michael Porter để phân tích và lên kế hoạch kinh doanh. Khả năng nắm bắt cơ hội trong tương lai là điều quyết định then chốt ví chúng đa không thể đón đầu trong tương lai bằng những công cụ trong quá khứ. + Quan điểm trường phái “năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản” Trường phái này nghiên cứu năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như: nhân lực, công nghệ, lao động.
Như vậy các công ty có năng lực cạnh tranh cao là những công ty sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, công nghệ, lao động. + Quan điểm của trường phái “năng lực cạnh tranh hoạt động” Đây là trường phái nghiên cứu năng lực cạnh tranh chú trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt động kinh doanh trên thực tế như: thị phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí… Công ty có năng lực cạnh tranh cao là những công ty có các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh hiệu quả như năng suất lao động cao, thị phần lớn, chi phí sản xuất thấp.2Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ ngày càng được sử dụng rộng rãi nhưng đến nay vẫn là khái niệm chung chung và khó đo lường. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu (do các giáo sư Đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng) thì năng lực cạnh tranh đựơc hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra. Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và là một doanh nghiệp đặc biệt vì sản phẩm kinh doanh của NHTM là tiền tệ.
NHTM hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, thực hiện các giao dịch trực tiếp với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 các cá nhân, tổ chức kinh tế, với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi để cho vay, thực hiện chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Mục đích hoạt động chính của NHTM cũng vì lợi nhuận. Theo Lê Thị Vân Anh (2007), năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng cung ứng tốt nhất các dịch vụ kinh doanh tiền tệ nhằm duy trì và phát triển lợi nhuận, thị phần của ngân hàng đó một cách bền vững. Qua nghiên cứu các quan điểm về cạnh tranh, tác giả nhận thấy các định nghĩa trước đây về năng lực cạnh tranh của NHTM thật sự chưa đầy đủ.
Tác giả đưa ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh của NHTM như sau: “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng duy trì và nâng cao năng lực cung ứng sản phẩm-dịch vụ, mở rộng mạng lưới, thu hút khách hàng và sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào và đầu ra nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Đó là việc khai thác, sử dụng nội lực và các lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn khách hàng, chiếm lĩnh thị phần và nâng cao vị thế của một NHTM trên thị trường”.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Có nhiều yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh đối với công ty. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của NHTM về cơ bản thể hiện qua các tiêu chí như sau: 1.1 Năng lực tài chính Các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM thông qua năng lực tài chính gồm có: Một là, quy mô nguồn vốn của ngân hàng: Vốn tự có thể hiện năng lực và sức mạnh trong cuộc đua cạnh tranh của các NHTM vì nó thể hiện lòng tin và sự chắc chắn đối với khách hàng, là tấm đệm đảm bảo cho mỗi ngân hàng chống được những rủi ro trong hoạt động của NHTM cũng như chống đỡ trước những biến động của môi trường kinh doanh. (Lý Hoàng Ánh,2014) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Hai là, khả năng sinh lời của ngân hàng: thể hiện qua các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng qua các năm, kết quả kinh doanh theo loại hình dịch vụ.
Ba là, chỉ tiêu an toàn trong hoạt động ngân hàng: việc tuân thủ các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng có tính quyết định đến uy tín ngân hàng và khả năng thu hút khách hàng. Vì sản phẩm chính của ngân hàng là dịch vụ tiền tệ nên tính an toàn đóng vai trò quan trọng trong quyết định lựa chọn ngân hàng mà khách hàng lựa chọn.2 Chất lượng nguồn nhân lực NHTM hoạt động trên lĩnh vực dịch vụ nên yếu tố con người là khá quan trọng trong việc thể hiện chất lượng của dịch vụ. Đội ngũ nhân viên của ngân hàng chính là người đem đến cảm nhận cho khách hàng về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Một đội ngũ lao động tốt sẽ đem lại năng suất lao động cao, tạo được niềm tin ở khách hàng.
Từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh. Nguồn nhân lực của NHTM được xem xét trên 2 khía cạnh là số lượng và chất lượng: - Về số lượng lao động: Để có thể mở rộng mạng lưới, gia tăng thị phần và chăm sóc tốt cho khách hàng, các NHTM phải có đội ngũ lao động đủ về số lượng. Tuy nhiên cũng cần so sánh và tính toán chỉ tiêu này trong mối tương quan với hệ thống mạng lưới và hiệu quả kinh doanh. - Về chất lượng lao động: Chất lượng lao động thể hiện qua các tiêu chí: - Trình độ văn hóa: gồm trình độ học vần và các kỹ năng hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học, giao tiếp,.
Tiêu chí khá quan trọng vì nó là nền tảng thể hiện khả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 năng của người lao động có thể học hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ.