CHƯƠNG 1. Các khái niệm liên quan 1.1 Khái niệm quản lý Theo cách quan niệm chung nhất thì “quản lý là việc đạt được mục tiêu thông qua người khác”. Nhu cầu quản ly gắn với tô chức. Tổ chức có thê được xem là một tập hợp từ hai người trở lên, phải phối hợp với nhau theo một cách thức nhất định để đạt được mục tiêu chung đã đặt ra.
Như vậy, tô chức, cho du đó là chính thức hay không chính thức, cho du có thé rất khác biệt về quy mô, phạm vi tác động hay cách thức hành động, đều có chung một yếu tố căn bản, đó là mục tiêu. Moi tổ chức đều cần phân công lao động một cách khoa học và tinh thần hợp tác cao dé đạt được mục tiêu chung. Quản lý là một điều kiện không thé thiếu được dé tạo nên các yếu tô đó. Điều này càng đúng hơn trong bối cảnh thay đổi hiện nay, khi thách thức về năng lực về năng lực khang định điện mạo, uy tín và tính chuyên môn hóa của từng tổ chức càng trở nên cao hơn bao giờ hết Quản lý còn có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ thé quản lý vào một đối tượng nhất định dé điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi con người nhằm duy trì tính ổn định va phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định.2 Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật nhà nước dé điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự 6n định và phát triển xã hội.3 Khái niệm quản lý hành chính nhà nước Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động quan trọng, chủ yếu của quản lý nhà nước.
Đó là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là hoạt động có tô chức và điều chỉnh băng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của các cá nhân do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ chính quyền trung ương tới cơ sở tiễn hành dé thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, nhăm duy trì và phát triển các mỗi quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. [7, tr 9] Noi dung quy trình quan lý hành chính nha nước - Lập kế hoạch Nhiệm vụ này liên quan đến việc xác định được các mục tiêu cần đạt được trong tương lai và các thức, lịch trình dé đạt được mục tiêu đó. Nội dung và phạm vi kế hoạch được quy định theo thẩm quyên. - Xây dựng và vận hành cơ cấu tô chức đề thực hiện nhiệm vụ Nhiệm vụ này liên quan đến cả nhu cầu thành lập mới (hoặc điều chỉnh) các đơn vi, hay co quan và việc đưa chúng vào hoạt động.
Chức năng, nhiệm vụ của cả tổ chức hay của từng đơn vị, thành viên và đặc biệt là mối quan hệ giữa chúng cần được quy định cụ thé, hop lý và rõ ràng. Đây là cơ sở cho việc thực thi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá (cán bộ, tổ chức và đặc biệt là các nhà quản lý) và điều chỉnh cơ cấu tô chức. - Quản lý và phát trién đội ngũ công chức, viên chức Khâu này liên quan đến việc xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách có thể thu hút được những người tốt nhất về làm việc cho cơ quan hành chính nhà nước, hay cho Chính phủ nói chung. Quan trọng hon, dé có thê thu hút thêm nhân tài thì một đòi hỏi rõ ràng, trước mắt là phải sử dụng tốt đội ngũ mà chúng ta đang có.
15 - Phối hợp hoạt động Khâu này liên quan đến nhiệm vụ tổ chức giao tiếp trong nội bộ cơ quan, hệ thống và bên ngoài. Ngoài điều kiện về chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vi, thành viên và đặc biệt là mối quan hệ giữa chúng được quy định cụ thể, hợp lý và rõ ràng, còn đòi hỏi phải có một hệ thống hành chính, quy trình, thủ tục nội bộ. - Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (công sở, công sản, tài chính công.) - Giám sát, kiểm tra và đánh giá Giám sát kiểm tra là yêu cầu không thé thiếu nham cho phép các nhà quản lý hành chính nhà nước đánh giá kịp thời và đầy đủ chính sách, các quyết định quản lý, năng lực của nhân viên và tổ chức cũng như tác động của môi trường 1.4 Khái niệm thiết chế xã hội Thiết chế xã hội là một khái niệm xã hội học [16, tr 45] Theo J.Fichter, “Đó là một phần của văn hóa, một đoạn đã được khuôn mẫu hóa trong nếp sống của một dân tộc”, “.Những khuôn mẫu tác phong công khai và tiềm ân tự biến thành những vai trò xã hội do những con người đảm nhiệm và nhiều loại tương quan khác nữa giữa những con người với nhau, đứng đầu những tương quan đó là những diễn tiến xã hội.” Fichter còn viết: “Những tương quan xã hội và những vai trò xã hội hợp thành những yếu tố chủ yếu của thiết chế.” Fichter khang định thiết chế là một “hình trạng hoặc một sự phối hợp giữa những khuôn mẫu tác phong được một đa số chấp nhận và tập chung vào sự thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của cộng đồng: Gidden A, xác định rõ: “Thiết chế bao gồm những chuẩn mực và những giá trị”. 16 Tóm lại, có thể hiểu thiết chế là một phần của văn hóa, bao gồm chuẩn mực và gia tri, tạo thành một hệ thống các quan hệ ồn định, một khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội thừa nhận nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội.
Chính sách làm một thiết chế xã hội, nó bao gồm những chuẩn mực và những giá trị được cấu trúc thành những khuôn mẫu tác phong, được xã hội thừa nhận, và đóng vai trò những công cụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của xã hội. Trước đây, trong giới nghiên cứu ở Việt Nam, người ta sử dụng hệ thống khái niệm của khoa học quản lý của Liên Xô và các nước XHCN, trong đó có khái niệm “cơ chế” (mechanism) và được định nghĩa là “Hệ thống xác định một trật tự các dạng hoạt động.” Chúng ta hoàn toàn có thể nghĩ rằng, khái niệm này rất có thể có xuất phat từ lĩnh vực cơ học. Nó có thé đã ra đời sau những cuộc cách mạng kỹ thuật. Con người khi đó đã xem máy móc là một thành quả cao nhất trong tư duy của nhân loại, và những khái niệm cơ học đó đã được sử dụng dé mô tả các hiện tượng xã hội, và thậm chí cả các hiện tượng sinh học, cũng được mô tả bằng khái niệm cơ học, chăng hạn bộ máy hành chính, bộ máy tiêu hóa, cơ chế quản lý, v.
Với sự xuất hiện xã hội học, khái niệm mang bản chất xã hội về “thiết chế” của xã hội học hoàn toàn có thé thay thế khái niệm “cơ chế” của cơ học. Y nghĩa của nó có thể sẽ mềm dẻo và linh hoạt hơn về mặt xã hội nhiều hơn, vì chính sách không phải là phạm trù mang bản chất cơ học, mà mang bản chất xã hội. Hệ thống thiết chế quản lý Thiết chế quản lý là phương thức tổ chức và nguyên tắc vận hành phân hệ chủ thé quan lý được thé hiện bởi hệ thống các vị thế, các vai trò, các chuân mực, các giá tri của hệ thông trong việc vận hành hệ 17 thong nhằm dat tới mục dich và mục tiêu đặt ra của hệ thống. Chức năng của thiết chế quản lý là nhăm thực hiện các nhiệm vụ quản lý đề ra, nó bao gồm các chức năng tô chức, kiểm soát, và điều tiết toàn bộ các hoạt động của hệ thống.
Đây cũng chính là chức năng của người đứng đầu và các cán bộ lãnh đạo trong quản lý. Thiết chế quản lý bao gom: chính sách, chiến lược và pháp luật [16, tr 47 1.5 Khái niệm cải cách hành chính Có nhiều cách tiếp cận về cải cách hành chính nhà nước nên có nhiều định nghĩa khác nhau về cải cách hành chính nhà nước. Có tác giả đưa ra định nghĩa nhắn mạnh tính kế hoạch, tính mục tiêu, tính tiễn bộ của cải cách hành chính; lại có tác giả nhấn mạnh sự phù hợp giữa các mục tiêu cải cách với yêu cầu đất nước. Cải cách hành chính nhà nước là cải cách nền hành chính nhà nước.
Nhưng tùy thuộc vào từng quốc gia, tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, cải cách hành chính nhà nước có thể hướng tới việc hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nên hành chính nhà nước. Theo các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, cải cách hành chính nhà nước ở nước ta là trọng tâm của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gom những thay đôi có chủ định của Nhà nước, các co quan nhà nước nhằm hoàn thiện thé chế của nền hành chình nhà nước. dé nâng cao năng lực, hiệu lực, kết quả hoạt động của nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân. trang 77] Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 xác định nội dung cải cách bao gồm: - Cai cách thé chế - Cải cách tổ chức bộ máy hành chính; 18 - Cải cách hành chính công Theo chúng tôi, ngoài các tiêu chí nêu trên, việc cải cách hành chính còn phải định hướng ứng dụng được CNTT và truyền thông nhằm làm tốt hơn việc cung cấp dịch vụ hành chính công cho người dân và doanh nghiệp nhờ CNTT.6 Khái niệm dịch vụ công và dịch vụ công trực tuyến Dich vụ công được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công băng. Theo đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhăm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động bah hành chính sách, pháp luật, toà án. cho đến những hoạt độngy tế, giáo dục, giao thông công cộng Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công được hiểu là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các t6 chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhăm mục tiêu hiệu quả và công bằng.