phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục Luận văn gồm 2 chương và 4 tiết. 10 z NỘI DUNG Chƣơng I Cơ sở hình thành và nội dung cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên 1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên 1. Truyền thống nêu cao tinh thần trách nhiệm của dân tộc Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn bất cứ người Việt Nam nào hết” [4, tr.
425], ở Hồ Chí Minh kết tinh của những giá trị tốt đẹp nhất của con người Việt Nam. Có thể nói, tinh hoa của dân tộc đã hình thành nên con người kiệt xuất Hồ Chí Minh và một trong những giá trị truyền thống đó là luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm. Truyền thống nêu cao tinh thần trách nhiệm của dân tộc đã hình thành nên một Hồ Chí Minh: Trách nhiệm cộng đồng sâu sắc, chủ nghĩa yêu nước, thương nòi, yêu thương, hy sinh, đoàn kết lẫn nhau, cùng nhau giải quyết những công việc chung của cộng đồng, của dân tộc. Đất nước Việt Nam có đặc điểm là một nước nông nghiệp trồng lúa nước nên trong công việc đồng áng rất cần sự cố kết cộng đồng và cần tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên trong cộng đồng để cùng nhau chung sức trong phòng chống thiên tai, tổ chức sản xuất.
Nông nghiệp trồng lúa nước, có đặc trưng là công việc đắp đê trị thủy và công việc phòng chống hạn hán, lũ lụt cần trách nhiệm chung của cả làng, xóm. Cùng với đặc trưng về tự nhiên, yếu tố lịch sử, xã hội cũng góp phần hình thành nên truyền thống nêu cao trách nhiệm với đất nước của mỗi con dân nước Việt khi liên tục chịu sự dòm ngó, xâm lăng của các thế lực phong kiến phương Bắc. Giá trị của tinh thần trách nhiệm và nâng cao tinh thần trách nhiệm luôn luôn được khẳng định và là giá trị quan trọng trong truyền thống văn hóa Việt Nam, từ tinh thần trách 11 z nhiệm của vua tôi với đất nước, với nhân dân đến trách nhiệm của từng người dân với quê hương, nơi mình gắn bó, đã hình thành nên những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam qua bao thế hệ. Trong thời chiến tranh, tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu đất nước trước hết là đứng ra đấu tranh và bảo vệ người dân của mình trước giặc ngoại xâm.
Đó là Hội nghị Diên Hồng, khi vua tôi cùng thể hiện tinh thần trách nhiệm bàn bạc để lấy ý kiến toàn dân trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông (1284). Câu hỏi của những người đứng đầu Nhà nước Đại Việt đặt ra cho các bô lão - tầng lớp được tôn trọng nhất trong xã hội truyền thống nước ta - về việc nên đánh hay nên hòa thuở đó, chính là nhằm khơi dậy, phát huy tinh thần trách nhiệm của toàn dân tộc, củng cố sức mạnh đoàn kết của toàn dân trước thử thách của lịch sử. Khi vua Trần Nhân Tông ướm hỏi vị tư lệnh chiến trường của mình là Trần Quốc Tuấn: “Thế giặc to như vậy mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?” thì lập tức nhận được câu trả lời rằng: “Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng tôn miếu, xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi hãy hàng”. Như thế là đã có dân, lại có cả tướng chung một ý chí quyết đánh, chung một tinh thần trách nhiệm trước dân tộc, như sử chép trai tráng Đại Việt xăm hai chữ “sát thát” vào cánh tay rồi đầu quân ra trận.
Sau ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, đặc biệt là sau trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng, ý chí được người xưa chép lại rất mộc mạc “muôn người cùng hô một tiếng như bật ra từ một cửa miệng” chính là bài học lớn nhất mà lịch sử dân tộc Việt Nam đã đúc kết, không chỉ với sự nghiệp giữ nước. Và mãi mãi sẽ ăn sâu và trao truyền trong tâm thức của người dân Việt Nam như một sức mạnh của truyền thống gắn liền với mục tiêu phấn đấu cho nền dân chủ hiện đại, khi tinh thần trách nhiệm của toàn dân tộc được hội tụ với lòng yêu nước cao nhất. 12 z Hồ Chí Minh là một người Việt Nam, từ khi sinh ra đến khi trưởng thành, đã được nuôi dưỡng từ truyền thống văn hóa ấy. Với Hồ Chí Minh, yêu nước là một động lực mạnh mẽ của dân tộc, sức mạnh ấy có thể “nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”, ở mỗi thời kỳ lịch sử lòng yêu nước được thể hiện khác nhau nhưng xuyên suốt trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ nguội tắt.
Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam đã cùng nhau trải qua bao cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực bên ngoài. Mỗi cá nhân đều có ý thức đồng thuận cao trong nhận thức về tình yêu quê hương, đất nước, về trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng với quê hương đất nước Lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước [37, tr.
Chính việc tiếp thu tinh thần trách nhiệm truyền thống, lòng yêu nước, thương nòi và từ đó kết hợp với tinh hoa nhân loại, sự rèn luyện của bản thân đã làm nên một Hồ Chí Minh luôn yêu nước, thương dân, thương nhân loại khổ đau với một tinh thần trách nhiệm, một đức hy sinh vô hạn. Hồ Chí Minh đã dành trọn cuộc đời để chiến đấu cho cách mạng, cho nhân dân, cho dân tộc, luôn nêu cao trách nhiệm với Tổ quốc, với dân tộc mình và nhân loại. Quan niệm về trách nhiệm trong truyền thống tư tưởng - văn hóa phương Đông 1. Quan niệm của Nho giáo về tinh thần trách nhiệm Nho giáo do Khổng Tử sáng lập ở Trung Quốc vào cuối thế kỷ VI trước công nguyên.
Ra đời trong tình hình chính trị xã hội, đạo đức, trật tự, kỷ cương xã hội bị đảo lộn, rối loạn, nên lý tưởng chính trị của Khổng Tử xây dựng dựa trên học thuyết về Nhân - Lễ - Chính danh. Trong đó, nhân là hạt 13 z nhân là nội dung của học thuyết chính trị, lễ là hình thức của nhân, chính danh là con đường đạt tới điều nhân, nhân là kết tinh cao nhất của triết học Khổng Tử. Nho giáo vào Việt Nam trước hết giữ vai trò của một học thuyết chính trị - đạo đức giúp nhà vua trị nước, yên dân và xây dựng một trật tự xã hội phù hợp với cương thường lễ nghĩa. Nói về Khổng Tử, ông đã cùng học trò của mình đi hầu khắp các nước vùng Hoa Hạ, trải qua bao khó khăn nguy hiểm với mong muốn đạo của ông được chấp nhận và thi hành trên đất nước nào đó.
Chỉ riêng đặc điểm này thôi đã thấy trách nhiệm với đời, với thời thế luôn hiện hữu trong suy nghĩ của Khổng Tử. Quan niệm về người quân tử của Nho giáo có điểm giống với quan niệm đạo đức của người cán bộ cách mạng, “quân tử chu nhi bất tỉ, tiểu nhân tỉ nhi bất chu” – quân tử chung khắp mọi nhà mà không tây vị, tiểu nhân tây vị mà không chung, nghĩa là, là một người quân tử phải có trách nhiệm với bản thân, với sự nghiệp trị nước, cứu dân. Dù không nói cụ thể về vấn đề trách nhiệm nhưng những hành động, lời nói và tư tưởng của Khổng Tử luôn thể hiện trách nhiệm của mình trước thế cuộc. Ông đi từ nước Lỗ sang nước Tề rồi về lại nước Lỗ, rồi lại sang nước Vệ cũng mong được hành đạo cứu nước, cứu dân của mình, không màng danh lợi hay địa vị.
Ông nói: “Sung sung vãng lai, bằng tòng nhĩ tư” [22, tr. 43] – vẩn vơ đi lại, lẩn quẩn với ý nghĩ của riêng mình, có nghĩa rằng, khi mình chỉ nghĩ về một điều thì chỉ cảm được cái ấy và chỉ có cái ấy ứng lại mà thôi, chứ không cảm ứng được với những cái khác nữa. Sâu xa hơn, một người khi lấy tâm tư nghĩ về việc lợi hại, hơn thiệt riêng, thì cái trực giác mờ tối đi, không nhìn thấy rõ cái thiên lý lưu hành trong thiên hạ nữa, đó chính là nói về tinh thần trách nhiệm của từng người, đã mang trên mình trách nhiệm phải lo lắng cho thiên hạ thì không nên chỉ biết nghĩ cho bản thân mình. Sinh ra trong gia đình có truyền thống Nho học, Hồ Chí Minh có một quá trình tiếp thu và học tập Nho giáo rất căn bản và có hệ thống.
Người tiếp thu di sản Nho học từ cha, học tập các thầy đồ nổi tiếng, và trao đổi với các 14 z nhà nho thế hệ tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, cho đến quá trình tự học lâu dài, bền bỉ, Hồ Chí Minh đã kế thừa, sử dụng nhiều phạm trù của Nho giáo, đồng thời đã bổ sung, phát triển những nội dung mới, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Một số phạm trù của Nho giáo mà Hồ Chí Minh đã sử dụng như nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, trung, hiếu. Hồ Chí Minh tiếp thu các phạm trù của Nho giáo và thể hiện quan điểm của mình rõ nhất ở hai phạm trù trung và hiếu. Hồ Chí Minh viết: “Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ.
Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào” [34, tr. Rõ ràng, ở Hồ Chí Minh, nếu chữ Trung mang một nội hàm hoàn toàn mới, từ trung với vua trở thành trung với nước, thì chữ Hiếu lại được mở rộng trên cơ sở phổ quát hoá đạo đức cá nhân, trong đó gốc của hiếu với dân phải là hiếu với cha mẹ.
Người cho rằng: “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến dày vò… Phải hiểu chữ hiếu rộng rãi như vậy” [37, tr.