CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE SU HAI LONG KHÁCH HÀNG DOI VỚI DỊCH VU 1.1 Dịch vụ và đặc điểm dịch vụ 1.1 Khai niệm dich vụ Dịch vụ ngày càng trở thành một thành phần quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia, nó là các tiện ích, hoạt động của nhà cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Khác với các hàng hóa hữu hình khác dịch vụ mang tính chất vô hình và khó định lượng. Các nhà nghiên cứu khác nhau đưa ra các quan điểm về dịch vụ khác nhau dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu này trình bày một số khái niệm về dịch vụ phô biến được trích dẫn bởi nhiều nhà nghiên cứu.
Zeithaml & Britner (2000) định nghĩa dich vu là một hành động, quá trình, va cách thức thực hiện một công việc dé tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng và dé đáp ứng nhu cầu va mong đợi của ho. Lovelock (2001 dan theo Oliveira, 2009) cho rang “ dich vụ là hoạt động kinh tế tạo gia tri và cung cấp lợi ích cho khách hàng tại thời gian cụ thé và địa điểm cụ thé như là kết quả của một sự thay đôi mong muốn, hoặc thay mặt cho người nhận (sử dụng) dịch vụ. Trong khi đó Kotler & Amstrong (2004) cho rằng dịch vụ là hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thé cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ hợp tác lâu dài với khách hàng. Theo Mairelles (2006 dẫn theo Oliveira, 2009), một dịch vụ mang tính chất vô hình và chỉ đánh giá được khi kết hợp với các chức năng khác là các quá trình sản xuất và các sản phẩm hữu hình.2 Đặc điểm dịch vụ Các nhà nghiên cứu có thể có quan điểm và cách diễn giải khác nhau về dịch vụ nhưng khá thống nhất về các đặc điểm dịch vụ.
Tổng kết những quan niệm chính trong marketing dịch vụ từ những năm 1980, Bitner và cộng sự (1993) cho răng dịch vụ có 04 đặc điểm là: (1) tính vô hình, (2) tính không tách rời, (3) tính không đồng nhất và (4) tinh không thé cất trữ được: e_ Tính vô hình của dịch vụ: Dịch vụ không có hình khối cụ thé, không thé cân đo, đong đếm, sờ, nếm hay ngửi. Trải nghiệm về dịch vụ của khách hàng ảnh hưởng tới cách họ nhận thức (Webber, 2001). Chính tính vô hình được coi là một đặc điểm để phân biệt dịch vụ và các hang hóa hữu hình khác (Levitt, 1981), tạo ra khó khăn cho công ty khi nhận về dịch vụ và đánh giá chất lượng dich vu (Robinson, 1999). e Tinh không tách rời: Dịch vu không thé tách rời giữa qua trình phan phối và tiêu thụ, nó luôn diễn ra đồng thời với nhau (Zeithaml 1981; Bowen 1990; Onkvisit & Shaw 1991).
Điều này không đúng với sản phẩm hữu hình được xuất nhập thông qua nhiều bước trung gian phân phối. Đối với sản phẩm hàng hóa khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ khách hàng đồng thời sử dụng trong suốt quá trình tạo ra dịch vụ. e Tinh không đồng nhất: Do tính không thé tách rời, việc thực hiện dịch vu phụ thuộc vào nhiều nhân tố: cách thức phục vụ, nhà cung cấp, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ và đối tượng phục vụ nên dịch vụ có tính không đồng nhất. Một khách hàng có thể cảm thấy nhận được dịch vụ rất tốt trong ngày hôm qua không có nghĩa họ tiếp tục đánh giá cao dịch vụ này trong lần sử dụng tiếp theo bởi nguyên nhân từ người phục vụ hoặc do chính khách hàng do sự ảnh hưởng của sức khỏe, cảm xúc, vv.
e Tinh không thé cat trữ: Dich vu không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thé đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vi dịch vụ thực hiện xong là hết, không thé dé dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại. Chính vi vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.3 Giới thiệu dịch vụ di động 3G tại Việt Nam 1.1 Dich vụ di động 3G Dich vụ di động 3G là các dịch vu viễn thông trên nền tảng công nghệ 3G được triển khai bởi các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và các nhà cung cấp dịch vụ nội dung SỐ. 3G là công nghệ truyền thông thế hệ thứ 3 (third-generation technology) cho phép truyền tải dữ liệu thoại và cả dữ liệu ngoài thoại.
Khác với các thế hệ công nghệ cho dịch vụ di động trước đây (1G, 2G, 2.5G) chủ yếu truyền tài địch vụ thoại mà ít có các dịch vụ truyền tài đữ liệu ngoài thoại. Điểm khác biệt cơ bản giữa các thế hệ công nghệ là sự mở rộng băng thông qua các thế hệ khác nhau cho phép tốc độ đường truyền ngày một cao hơn. Do sự mở rộng của băng thông nên công nghệ 3G cho phép truyền tải, nhận các dữ liệu, âm thanh, hình anh chất lượng cao cho cả thuê bao cé định và thuê bao dang di chuyền ở các tốc độ khác nhau. Trên nền tảng 3G các nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng các dịch vụ đa phương tiện như âm nhạc chất lượng cao, hình ảnh video chất lượng cao và truyền hình số, các dịch vụ định vị toàn cầu, email, game, vv.
Lich str cua 3G dau tién duoc str dụng rộng rãi tai Nhật ban vào năm 2001 với nhà mạng Docomo sử dụng công nghệ W-CDMA, tiếp theo các quốc gia châu Âu sử dụng 3G từ năm 2003 và sau đó được phô biến tại rất nhiều quốc gia. Tại Việt Nam dịch vụ 3G được cấp phép cho 4 nhà mạng là Viettel, Mobifone, Vinaphone và Vietnamobile từ năm 2009. Dịch vụ 3G đầu tiên được Vinaphone cung cấp đầu tiên vào tháng 10/2009 tiếp đến là các nhà cung cấp Viettel, Mobifone và Vietnamobile. Hiện nay tổng sé lượng thuê bao sử dung các dich vụ 3G đã lên đến con số hơn 16 triệu thuê bao (Sách trang CNTT, 2013).
Mặc dù cùng là thế hệ công nghệ truyền thông thứ 3 được công nhận bởi tổ chức Viễn thông Thế giới (ITU). Tuy nhiên trong thực tế các nhà sản xuất thiết bị xây dựng thành 4 chuân 3G thương mại chính là: W-CDMA Tiêu chuẩn W-CDMA là nền tảng của chuẩn UMTS (Universal Mobile Telecommunication System) dựa trên kỹ thuật CDMA trải phổ dãy trực tiếp va được xem là giải pháp thích hợp với các nhà khai thác dịch vụ di động sử dụng công nghệ GSM, được sử dụng chủ yếu ở Châu Âu và một phần ở châu Á, các nhà mạng hiện tại của Việt Nam cũng đang sử dụng phiên bản này. CDMA 2000 Một tiêu chuan quan trọng khác là CDMA 200 là chuẩn tiếp theo của 2G CDMA và IS 95, CDMA200 là thế hệ tiếp theo được sử dụng bởi các nhà mạng khai thác sử dụng dịch vụ trên nền tảng công nghệ CDMA và được phát triển tập trung chủ yếu tại Hàn Quốc, Nhật Bản. Chuẩn này cũng được chấp nhận với ITU.
TD-CDMA Chuan TD — CDMA là một chuẩn dựa trên kỹ thuật song công phân chia theo thời gian (time division duplex). Đây là chuẩn thương mai áp dụng hỗn hợp TDMA và CDMA nhằm cung cấp dịch vụ chất lượng tốt hơn cho truyền thông đa phương tiện trong cả truyền dữ liệu lẫn âm thanh, hình ảnh. TD-SCDMA Chuẩn TD-SCDMA được biết đến ít hon so với các chuẩn khác đang được phát triển tai Trung Quốc bởi công ty Siemens và Datang nhằm mục đích như một giải pháp thay thế cho W — CDMA. Do nền tảng của 3G là mở rộng băng thông so với các thế hệ truyền thông trước đây nên dịch vụ của nó cũng rất đa dạng.
Nhưng nhìn chung có thể quy về một số nhóm dich vụ như sau: Mobile internet: là dich vụ truy cập internet trực tiếp từ máy điện thoại di động có sử dụng số di động. Ưu điểm của dịch vụ là có thé truy cập mọi lúc mọi nơi bat kỳ chỗ nào có sóng di động 3G. Dịch vụ Video call: Là dịch vụ thoại thấy hình, hiểu đơn giản là dịch vụ cho phép người gọi và nghe có thê nhìn thấy hình ảnh của nhau qua thiết bị di động của mình. Dich vụ Mobile TV: Là dich vụ xem truyền hình trên thuê bao di động của khách hàng.
Dich vụ internet 3G: Là dịch vụ truy cập internet băng thông rộng qua thiết bị kết nỗi với máy tính (USB 3G). Ngoài ra còn các dịch vụ nhưng chủ yếu khai thác trên nền tảng của Mobile internet như các kho ứng dụng dịch vụ, kho tải game, vv được cung cấp bởi các hãng viễn thông hay các nhà cung cấp nội dung số.2 Dịch vụ 3G tại Việt Nam Năm 2009 Bộ TT & TT chính thức cấp giấy phép xây dựng và khai thác dịch vụ 3G cho 04 nhà mạng là Viettel, Mobifone, Vinaphone và Vietnamobile. Trong đó Vinaphone là nhà cung cấp dịch vụ 3G đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 10/2009 tiếp sau lần lượt các nhà cung cấp khác đều cung cấp dịch vụ ngày một đa dạng. Dưới đây là các dịch vụ đang được cung cấp phổ biến từ ba nhà mạng lớn nhất hiện nay: e Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) Viettel là nhà cung cấp rất nhiều dịch vụ khác nhau trên nền tảng 3G bao gồm: MobiTV: Dịch vụ MobiTV cho phép người dùng 3G tiếp cận các phương tiện giải trí chất lượng cao mọi lúc mọi nơi như xem các kênh truyền hình trực tiếp (liveTV), các video clip theo yêu cầu (VOD) chỉ với chiếc điện thoại hòa mạng 3G.
Khách hàng có thể sử dụng dich vụ bằng hai cách: truy cập website http://mobitv.vn hoặc qua ứng dung của dịch vụ được cài đặt trực tiếp trên điện thoại. Mobile Internet: Là dich vụ truy cập internet băng rộng qua điện thoại sử dụng số di động của Viettel. Dich vụ Mstore: Mstore là một kho ứng dụng dành cho điện thoại di động được cung cấp bởi Viettel. Khach hàngcó thể truy cập vào trang website www.vn hoặc www.vn từ máy tính hoặc điện thoại di động dé xem, tải và gửi tặng các ứng dụng.
Dịch vụ Imuzik 3G: Imuzik 3G là dịch vụ âm nhạc xây dựng trên nền tảng 3G giúp khách hàng có thể nghe nhạc, xem video clip, tải nguyên bài hát về điện thoại (download fulltrack), tải các đoạn nhạc chờ hoặc đọc các tin tức âm nhạc trong nước và quốc tế ngay trên điện thoại di động của mình.