lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận quản lý về an toàn trong lĩnh vực khai thác mặt đất của hãng hàng không. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý an toàn trong lĩnh vực khai thác mặt đất của Vietnam Airlines Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý an toàn trong lĩnh vực khai thác mặt đất của Vietnam Airlines. 8 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN TRONG LĨNH VỰC KHAI THÁC MẶT ĐẤT CỦA HÃNG HÀNG KHÔNG 1.1 TỔNG QUAN QUẢN LÝ AN TOÀN 1.1 An toàn và quản lý an toàn Khái niệm về an toàn : An toàn không phải là không có tai nạn, sự cố, mối nguy hiểm, sai lỗi hay tuân theo luật lệ mà là trạng thái khi khả năng gây hại tới con người hoặc tài sản được giảm xuống bằng hay dưới mức độ chấp nhận được thông qua quá trình liên tục nhận dạng các mối nguy hiểm và quản lý rủi ro [3]. Khái niệm về quản lý an toàn: Quản lý an toàn là tập hợp có tổ chức các quá trình và quy trình dựa trên sự phân bổ có nguyên tắc các nguồn lực cho phép kiểm soát và giảm thiểu các rủi ro an toàn tới mức độ chấp nhận được.
Quản lý an toàn gồm 3 đặc trưng cơ bản: tính hệ thống ; tính rõ ràng; tính đi trước [3].2 Quản lý an toàn của hãng hàng không Sự cần thiết của quản lý an toàn hàng không: An toàn trong hoạt động hàng không luôn luôn được đề cao và chú trọng hàng đầu. Khi hoạt động hàng không ngày càng tăng thì công tác quản lý an toàn càng trở thành yêu cầu cấp thiết của từng quốc gia. ICAO đã khuyến nghị các nước trên thế giới xem xét áp dụng nhiều nguyên lý về an toàn để xây dựng hệ thống quản lý an toàn, trong đó điển hình là quy tắc 1:600. Quy tắc 1:600 là kết quả nghiên cứu của Frank Bird, ông là giám đốc công ty bảo hiểm của Mỹ - North America (ESTA) năm 1969 chỉ ra rằng tỉ lệ tai nạn được báo cáo có thể hình thành quy luật như sau: cứ 1 tai nạn mức thảm họa xảy ra khi xảy ra 10 vụ tai nạn nghiêm trọng, 30 vụ tai nạn, 600 sự cố, từ đó người ta gọi là quy tắc 1:600; quy tắc này được mô tả ở hình 1.1: Quy tắc 1:600 Nguồn: DOC 8959 ICAO, năm 2006 Giải thích hình 1.1: Thảm họa (Fatal accidents): Tàu bay hoặc phương tiện bị phá hủy hoàn toàn , nhiề u người tử vong ; tai na ̣n nghiêm tro ̣ng (Serious accidents): Tàu bay hoặc phương tiê ̣n bị hư hỏng nặng , nhiề u người bi ̣thương ; tai nạn (Accidents): Tàu bay hoặc phương tiê ̣n bị hỏng nhẹ, có ít người bị thương nhẹ ; sự cố (Incidents): Tàu bay hoặc phương tiê ̣n bị hỏng không đánh kể , không phải khắ c phu ̣c gì.
Các loại hình dịch vụ hàng không cần phải quản lý an toàn: ICAO xác lập rằng các quốc gia phải yêu cầu buộc các tổ chức cung cấp dịch vụ hàng không đối mặt với những rủi ro do mất an toàn trong khi cung cấp các dịch vụ áp dụng một hệ thống quản lý an toàn. Yêu cầu về quản lý an toàn của ICAO: Yêu cầu các quốc gia thành viên phải có chương trình an toàn quốc gia trong lĩnh vực hàng không dân dụng (SSP) theo quy định tại phụ ước 1 (cấp phép nhân viên hàng không), phụ ước 6 (khai thác tàu 10 z bay), phụ ước 8 (tiêu chuẩn đủ điều kiện bay đối với tàu bay), phụ ước 11 (dịch vụ quản lý bay), phụ ước 13 (điều tra sự cố tai nạn tàu bay) và phụ ước 14 (cảng hàng không), phụ ước 18 (vận chuyển các vật phẩm nguy hiểm bằng đường hàng không), phụ ước 19 (quản lý an toàn) [10]. Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) yêu cầu mỗi quốc gia thành viên phải xây dựng một chương trình an toàn quốc gia (SSP). Đây là “Một hệ thống tích hợp các quy định và hoạt động nhằm mục đích nâng cao an toàn” và phải bao gồm 4 thành phần sau: Các chính sách và mục tiêu an toàn của quốc gia; công tác quản lý rủi ro an toàn cấp quốc gia; công tác đảm bảo an toàn cấp quốc gia; công tác đẩy mạnh an toàn cấp quốc gia.
Tại hội nghị lần thứ 37 của ICAO vào tháng 9/2010 đã nhận định: Với lưu lượng hàng không sẽ tăng trưởng gấp đôi trong vòng 15 năm tới, rủi ro an toàn phải được giải quyết tích cực để đảm bảo sự tăng trưởng đáng kể này ICAO đề xuất thêm Phụ ước 19 về quản lý an toàn trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý an toàn ở cấp nhà nước và tăng cường an toàn thông qua củng cố các quy định quản lý an toàn có thể áp dụng trong nhiều lĩnh vực hàng không trong một Phụ ước duy nhất. ICAO đã chấp thuận việc phát triển phụ ước 19 theo 2 giai đoạn: Giai đoạn thứ 1: Tập trung vào việc củng cố và sắp xếp các tiêu chuẩn và khuyến cáo thực hành đã có trong các phụ ước khác vào Phụ ước 19; giai đoạn 2: Tập trung vào việc phát triển các quy định quản lý an toàn mới. Phụ ước 19 đã được ICAO thông qua vào tháng 4/2013 và chính thức có hiệu lực từ ngày 14/11/2013. Phạm vi quản lý an toàn hàng không: Nhằm đảm bảo an toàn cho toàn bộ các quá trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng, phạm vi của hệ thống quản lý an toàn (SMS) phải bao gồm các lĩnh vực sau: Lĩnh vực khai thác bay; lĩnh vực bảo dưỡng máy bay; lĩnh vực khai thác mặt đất và dịch vụ bao gồm cả dịch vụ mặt đất và trên không.
Mối quan hệ giữa đảm bảo an toàn hàng không với hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải hàng không: Vì các chức năng chính của quản lý an toàn hàng không là: quản lý rủi ro và đảm bảo an toàn nên ICAO khuyến cáo trong chính 11 z sách, chiến lược của các hãng hàng không bắt buộc phải đặt yếu tố quản lý an toàn ở mức độ ưu tiên số một để định hướng cho việc ra quyết định quản lý, kinh doanh. Tất cả các hành động quản lý trong lĩnh vực vận tải hàng không chỉ được đưa ra sau khi đã xem xét kỹ lưỡng đến yếu tố an toàn, tức là trong mọi hoàn cảnh phải xem xét để đảm bảo an toàn trước. Mọi hành vi điều hành sản xuất kinh doanh trong vận tải hàng không đều gắn với hành vi ra quyết định liên quan đến quản lý rủi ro hay quản lý an toàn. Qua những phân tích trên cho thấy quản lý an toàn cũng đồng nhất với quản lý rủi ro vì quản lý an toàn sẽ giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, doanh nghiệp làm tốt quản lý an toàn cũng chính là đã quản trị rủi ro có hiệu quả và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đó sẽ tốt hơn.3 Lĩnh vực khai thác mặt đất của hãng hàng không Khai thác mặt đất là sản phẩm không tách rời của vận chuyển hàng không, có vai trò rất quan trọng trong đảm bảo hiệu quả hoạt động của một hãng hàng không và vận tải hàng không của một quốc gia, hiệu quả trong hoạt động khai thác mặt đất được xem xét trên các mặt: Duy trì mức độ an toàn; sự hài lòng của khách hàng; hiệu quả của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không; đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư của chủ sở hữu; đảm bảo cung ứng các sản phẩm dịch vụ.
Các sản phẩm trong lĩnh vực khai thác mặt đất: Là khai thác một chuyến bay giữa hai điểm, các dịch vụ khai thác mặt đất bao gồm: (1) Dịch vụ làm thủ tục hành khách và hành lý; (2) Dịch vụ cân bằng trọng tải và giám sát sân đỗ; (3) Dịch vụ phục vụ máy bay tại khu vực sân đỗ. i) Dịch vụ làm thủ tục hành khách và hành lý: Dịch vụ bao gồm nhiều công đoạn như: Làm thủ tục cho hành khách và hành lý lên máy bay; hướng dẫn hành khách lên máy bay đúng chuyến bay; cân và gắn thẻ hành lý đúng trọng lượng và đúng điểm đến. Các công đoạn này bao gồm nhiều công đoạn nhỏ, nhiều thao tác phải thực hiện bằng tay do đó có nhiều nguy cơ sai lỗi. ii) Dịch vụ cân bằng trọng tải và giám sát sân đỗ: Dịch vụ này bao gồm các công đoạn như: Lập kế hoạch chất xếp tải, lập bản cân bằng trọng tải và giám sát chất xếp tải hành khách, hành lý, hàng hóa lên xuống máy bay đảm bảo an toàn cho 12 z con người, trang thiết bị mặt đất và máy bay.
Dịch vụ này đòi hỏi phải đảm bảo yếu tố tận dụng tải thương mại, an toàn và đúng giờ. iii) Dịch vụ phục vụ máy bay tại khu vực sân đỗ: Dịch vụ này bao gồm các công đoạn như: Chất xếp hàng hóa, hành lý lên xuống máy bay, làm vệ sinh máy bay, cung cấp báo chí, chăn, gối, nước, điện và khí cho máy bay. Dịch vụ này luôn phải sử dụng các trang thiết bị mặt đất để tiếp cận máy bay nên có nhiều nguy cơ va chạm trực tiếp với thân hoặc động cơ máy bay.2 QUẢN LÝ AN TOÀN TRONG LĨNH VỰC KHAI THÁC MẶT ĐẤT CỦA HÃNG HÀNG KHÔNG 1.1 Đặc điểm an toàn lĩnh vực khai thác mặt đất. Quá trình cung cấp các dịch vụ mặt đất diễn ra trong khoảng thời gian ngắn từ 1 đến 2 giờ đồng hồ, tất cả các công đoạn đều phải tuân thủ các quy trình, hướng dẫn và tiêu chuẩn khai thác đã định trước.
Trong khi đó để đảm bảo yếu tố thương mại máy bay đòi hỏi phải cất cánh đúng giờ, với tiêu chuẩn an toàn cao nhất; do đó áp lực đối với nhân viên phục vụ và các cấp quản lý luôn ở mức cao. Khi máy bay đã cất cánh, nếu có sai sót trước đó ở công đoạn phục vụ mặt đất thì không có bất kỳ cơ hội nào cho bất kỳ ai có thể sửa chữa được. Các sự cố có thể xảy ra trong quá trình khai thác mặt đất bao gồm: (1) vật ngoại lai tại sân đỗ gây hư hại đối với tàu bay trong quá trình khai thác; (2) va chạm giữa tàu bay với trang thiết bị mặt đất; (3) va chạm giữa tàu bay với cơ sở hạ tầng sân bay, xưởng bảo dưỡng; (4) mất an toàn do quản lý tải và chất xếp; (5) sự cố vận chuyển hàng hoá nguy hiểm; (6) không tuân thủ quy trình đã được thiết lập tại sân đỗ tàu bay gây nên nguy cơ mất an toàn khi trang thiết bị mặt đất va chạm với tàu bay.