CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Nhu cầu năng lượng đang là vấn đề thời sự cho sự phát triển của nền kinh tế, trong đó năng lượng điện đóng vai trò then chốt. Hệ thống điện (HTĐ) liên tục được mở rộng và phát triển đồng nghĩa sẽ gây khó khăn hơn trong việc quản lý, vận hành và điều khiển. HTĐ trở nên “nhạy cảm” với các sự cố có thể xảy ra và có thể dẫn đến mất ổn định HTĐ.
Việc mất ổn định hay sụp đổ điện áp là một trong những nguyên nhân chính và hậu quả của nó là vô cùng lớn khi xem xét dưới góc độ kinh tế và an ninh năng lượng. Trong HTĐ Việt Nam, lưới điện truyền tải có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc liên kết điện giữa các vùng miền, kết nối các nhà máy điện và các trung tâm phụ tải, cung cấp điện cho khắp mọi miền đất nước. Chính vì vậy, việc thiết lập một hệ thống truyền tải điện an toàn, ổn định bền vững không chỉ là mục tiêu mà ngành điện đang hướng tới mà còn là mong mỏi của khách hàng sử dụng điện. Để giải quyết cho vấn đề này, bài toán nghiên cứu ổn định hệ thống điện là một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu kỹ thuật điện ở trong và ngoài nước và là bài toán vô cùng quan trọng.
Trong đó sự cố mất ổn định góc rotor máy phát điện đã được xem như là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến một số sự cố tan rã HTĐ gần đây. Đứng trên quan điểm phòng ngừa sự cố mất ổn định góc rotor máy phát điện, cần phải nâng cao hệ thống điều khiển bằng cách lắp đặt thêm các thiết bị hãm hay thêm các mô men hãm có dao động công suất như: các thiết bị ổn định công suất ở các máy phát điện hay các thiết bị bù thông minh. Trong đó thiết bị PSS (Power System Stabilizer) đã được chứng minh là có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao ổn định góc rotor. Trong thực tế HTĐ rất rộng lớn với nhiều đường dây liên lạc trong khi các thiết bị điều khiển thường hạn chế về số lượng vì lý do kinh tế và kỹ thuật, vấn đề đặt ra là phải lựa chọn 1 HVTH: Nguyễn Lê Hà Thủy GVHD: PGS.
Nguyễn Minh Tâm thiết bị tối ưu để nâng cao ổn định. Vì vậy “Nghiên Cứu Bộ PSS Nâng Cao Ổn Định Hệ Thống Điện” là đề tài sẽ thực hiện cho luận văn tốt nghiệp nhầm giải quyết các vấn đề đã nêu trên. Giới thiệu cấu trúc và sự ổn định trong hệ thống điện. Cấu trúc hệ thống điện.
HTĐ gồm có các nhà máy điện, các lưới điện, các hộ tiêu thụ được liên kết với nhau thành một hệ thống để thực hiện 4 quá trình sản xuất, truyền tải, phân phối và tiêu thụ điện năng. Ngày nay, HTĐ không phải là một hệ thống đơn lẻ mà là một hệ thống liên kết. Nó có thể bao gồm hàng ngàn thiết bị điện và trải rộng trên một khu vực rộng lớn, lợi ích của việc liên kết HTĐ là [1]: - Cung cấp một lượng lớn công suất và tăng độ tin cậy của hệ thống. - Giảm số lượng máy phát theo yêu cầu vận hành đỉnh tải cũng như yêu cầu dự trữ quay của hệ thống khi tải thay đổi đột ngột.
- Cung cấp nguồn công suất kinh tế cho khách hàng.1 minh họa các phần tử cơ bản của một HTĐ hiện đại. Điện năng được tạo ra ở trạm phát điện (GS) và được truyền tải đến hộ tiêu thụ thông qua mạng lưới điện phức tạp bao gồm các đường dây truyền tải, các MBA, các thiết bị đóng cắt,.Ta có thể phân mạng lưới điện thành các hệ thống như sau [2]: - Hệ thống truyền tải. - Hệ thống truyền tải trung gian. - Hệ thống phân phối.
Hệ thống truyền tải liên kết tất cả các trạm phát điện chính với các trung tâm phụ tải trong hệ thống. Nó tạo ra xương sống của HTĐ hợp nhất và hoạt động ở các cấp điện áp cao nhất (điển hình là 220 kV và cao hơn). Hệ thống truyền tải trung gian truyền năng lượng điện với công suất nhỏ hơn từ các trạm truyền tải đến các trạm phân phối. Hệ thống phân phối tượng trưng cho giai đoạn cuối trong việc truyền tải điện năng tới các hộ tiêu thụ riêng lẻ.
2 HVTH: Nguyễn Lê Hà Thủy GVHD: PGS. Nguyễn Minh Tâm Hình 1. Minh họa các phần tử cơ bản của một HTĐ. Ổn định hệ thống điện.
HTĐ như mô tả ở trên tạo nên sự phức tạp về cấu trúc cũng như độ tin cậy,. Một mặt, HTĐ này cho phép khai thác tối đa các ưu điểm vận hành kinh tế (phối hợp với các nguồn thuỷ điện – nhiệt điện, tối ưu hoá công suất nguồn,…), cho phép hệ thống chống lại được các sự cố bất thường mà không làm gián đoạn việc cung cấp điện. Mặt khác, là tiền đề thuận lợi cho việc phát triển các nguồn điện công suất lớn và việc đấu nối vào hệ thống. Tuy nhiên, cũng làm nảy sinh vấn đề về ổn định HTĐ.
3 HVTH: Nguyễn Lê Hà Thủy GVHD: PGS. Nguyễn Minh Tâm Ổn định HTĐ là khả năng duy trì trạng thái hoạt động bình thường (trạng thái được xác định trước) trong hệ thống điện sau khi chịu tác động nhiễu xảy ra. Nhiễu này có thể là ngắt một máy phát ra khỏi hệ thống, thay đổi nhu cầu tải đột ngột hoặc ngắn mạch trên đường dây truyền tải. Khả năng của hệ thống trở về trạng thái ổn định phụ thuộc vào trạng thái ban đầu của hệ thống và loại nhiễu.
Một xáo trộn trong mạng điện sẽ tạo ra dao động điện giữa các nhà máy điện và cả mạng điện. Một trong những điều kiện cần thiết để HTĐ hoạt động bình thường là tất cả các máy phát duy trì đồng bộ với nhau. Về khía cạnh này HTĐ chịu ảnh hưởng của đặc tính động học góc rotor và quan hệ công suất - góc [3], [4]. Đánh giá ổn định hệ thống điện.
Nghiên cứu ổn định phụ thuộc bản chất và đặc tính của biên độ nhiễu, và được phân ra làm các loại như sau: Hình 1. Phân loại ổn định hệ thống điện. Ổn định góc rotor là khả năng của các máy phát đồng bộ liên kết với nhau trong HTĐ duy trì sự đồng bộ. Bài toán ổn định góc rotor liên quan đến việc nghiên cứu dao động cơ điện vốn có trong HTĐ, trong đó công suất phát của máy phát đồng bộ thay đổi khi góc rotor dao động.
Ổn định góc với nhiễu nhỏ là khả năng của HTĐ duy trì chế độ đồng bộ khi chịu tác động của các nhiễu nhỏ. Ổn định quá độ là khả năng của HTĐ duy trì chế độ đồng bộ khi chịu tác động của nhiễu quá độ nghiêm trọng. Đáp ứng của hệ thống liên quan đến sự thay đổi lớn của góc rotor máy phát và chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ công suất góc phi tuyến. Ổn định phụ thuộc vào cả chế độ làm 4 HVTH: Nguyễn Lê Hà Thủy GVHD: PGS.
Nguyễn Minh Tâm việc ban đầu lẫn mức độ nghiêm trọng của nhiễu. Thông thường hệ thống sẽ thay đổi do đó trạng thái xác lập sau khi nhiễu khác với trạng thái xác lập trước nhiễu. Nhiễu thường được xem xét là sự cố ngắn mạch các loại xảy ra trên đường dây truyền tải, thanh góp và MBA. Ổn định tần số (Frequency Stability) là khả năng của HTĐ duy trì được tần số xác lập sau khi xảy ra các kích động làm mất cân bằng công suất giữa nguồn điện và phụ tải điện.
Tần số danh định của HTĐ quốc gia Việt Nam là 50 Hz. Trong chế độ vận hành bình thường, tần số hệ thống được phép dao động 0.2 Hz so với tần số danh định. Ở các chế độ vận hành khác của HTĐ, dải tần số được phép dao động và thời gian khôi phục về chế độ vận hành bình thường theo từng chế độ vận hành của HTĐ (sự cố đơn lẻ, sự cố nhiều phần tử, sự cố nghiêm trọng hoặc chế độ cực kỳ khẩn cấp). Ổn định điện áp là khả năng của HTĐ duy trì điện áp xác lập chấp nhận được tại tất cả các thanh góp của hệ thống trong các chế độ vận hành bình thường và sau khi chịu tác động của nhiễu.
Ổn định điện áp với nhiễu lớn là khả năng của hệ thống điều khiển điện áp sau khi có các nhiễu lớn như sự cố hệ thống, mất máy phát hoặc cắt đường dây. Tiêu chuẩn ổn định điện áp với nhiễu lớn, sau một nhiễu đã cho và sau các tác động điều khiển hệ thống, là điện áp tại tất cả các thanh góp đạt đến giá trị xác lập chấp nhận được. Ổn định điện áp với nhiễu nhỏ là khả năng của hệ thống điều khiển điện áp của hệ thống sau khi có các nhiễu nhỏ như sự thay đổi phụ tải. Tiêu chuẩn ổn định điện áp nhiễu nhỏ đối với một chế độ vận hành đã cho là tại mỗi thanh góp của hệ thống biên độ điện áp tăng khi công suất phản kháng bơm vào thanh góp tăng.
Ổn định tần số và ổn định điện áp có liên quan đến mối quan hệ giữa máy phát điện và điện năng tiêu thụ trong hệ thống. Một sự thay đổi phân bố công suất phản kháng sẽ gây ra một sự thay đổi điện áp trong hệ thống điện và tương tự một sự thay đổi phân bố công suất tác dụng sẽ dẫn đến một sự thay đổi tần số trong hệ thống điện. Điều khiển hệ thống điện. Nhiệm vụ điều khiển hệ thống điện.
Chức năng của một HTĐ là biến đổi năng lượng từ một dạng tự nhiên sang dạng điện và truyền tải đến các điểm tiêu thụ. Sự tiện lợi của năng lượng điện là dễ 5 HVTH: Nguyễn Lê Hà Thủy GVHD: PGS. Nguyễn Minh Tâm truyền tải và điều khiển với hiệu suất và độ tin cậy cao. Trong quá trình vận hành HTĐ cần đảm bảo các yêu cầu sau đây: - Hệ thống phải có khả năng đáp ứng một cách liên tục với sự thay đổi nhu cầu tải CSTD và CSPK.
Không giống như các dạng năng lượng khác, điện năng không thể tích trữ với dung lượng lớn được. Bởi vậy, rất nhiều thiết bị và bộ điều khiển được sử dụng để duy trì cân bằng công suất tiêu thụ và công suất phát. - Chất lượng điện năng phải đảm bảo các tiêu chuẩn: Tần số hệ thống không đổi và điện áp nút không đổi. Cấu trúc điều khiển hệ thống điện.