CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THÀNH LẬP QUỸ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG 1. Hệ thống các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm đổi mới công nghệ Theo Thông tư số 03/2012/TT-BKHCN của Bộ KH&CN ngày 18/1/2012 Hướng dẫn quản lý chương trình ĐMCN quốc gia đến năm 2020, thì: - ĐMCN là việc thay thế một phần hay toàn bộ công nghệ đã, đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, hiệu quả hơn. - Hoạt động chủ yếu của ĐMCN là nghiên cứu nhận dạng, đánh giá, định giá công nghệ và thay thế công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ tiên tiến; nghiên cứu cải tiến, hoàn thiện công nghệ hoặc nghiên cứu làm chủ và sáng tạo ra công nghệ mới; áp dụng phương pháp sản xuất mới, phương pháp tiên tiến trong quản lý doanh nghiệp; phát triển tính năng, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Theo Wikipedia1, ĐMCN có thể nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường. ĐMCN có thể là đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới chưa có trên thị trường công nghệ hoặc là thay đổi cơ bản công nghệ hiện có. Như vậy, đối với sự phát triển của doanh nghiệp thì ĐMCN sản xuất là một dạng trong các hoạt động đổi mới có vai trò cực kỳ quan trọng. ĐMCN 1 http://vi.org/wiki/Đổi_mới_công_nghệ 9 z sản xuất giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh từ việc giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao mức độ an toàn sản xuất, giảm tác động xấu đến môi trường và nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
Trong tình hình hiện nay, ĐMCN được coi là giải pháp sống còn của doanh nghiệp. Tổng quan sơ bộ về khái niệm “đổi mới” cho thấy, “đổi mới được định nghĩa là việc thực hiện một sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ) mới, hoặc được cải tiến đáng kể, hoặc (việc thực hiện) qui trình (công nghệ), phương pháp tiếp thị mới, hoặc một phương pháp tổ chức mới trong hoạt động kinh doanh, trong tổ chức nơi làm việc hoặc trong quan hệ với bên ngoài (OECD, 2005)2. Như vậy, mọi “đổi mới” phải có một mức độ “chưa từng có”, hoặc mức độ mới nào đó. Theo phân loại của OECD cũng trong tài liệu trên, có ba mức độ mới: mới đối với doanh nghiệp; mới đối với thị trường; mới đối với thế giới.
Cụ thể, “mới đối với doanh nghiệp” chính là việc đưa ra các sản phẩm, dịch vụ mới, qui trình mới lần đầu tiên ở doanh nghiệp, dù có thể các sản phẩm, dịch vụ, qui trình đó không còn là mới đối với thế giới hay đơn vị khác. Trong khi đó, “mới đối với thị trường” là việc xuất hiện lần đầu tiên của sản phẩm, dịch vụ mới trên một thị trường nhất định. Mức độ đổi mới cao nhất là “mới đối với thế giới”, khi sản phẩm, dịch vụ đó chưa từng xuất hiện bao giờ. Khái niệm quỹ đổi mới công nghệ 1.
Quỹ ĐMCN quốc gia Ngày 5/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1342/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ ĐMCN quốc gia3. Theo đó, quy định: Quỹ ĐMCN quốc gia là đơn vị sự nghiệp phục vụ quản lý nhà nước trực thuộc Bộ KH&CN. 2 Cẩm nang OSLO phiên bản thứ 3, 2005 3 Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 5/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ ĐMCN quốc gia 10 z Quỹ ĐMCN quốc gia có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước, có trụ sở chính đặt tại thành phố Hà Nội. Quỹ là tổ chức tài chính Nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn, hỗ trợ vốn cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ.
Vốn điều lệ của Quỹ là 1.000 VNĐ (Một nghìn tỷ đồng) do ngân sách nhà nước về hoạt động khoa học, công nghệ cấp. Quỹ được cấp vốn bổ sung hằng năm từ ngân sách nhà nước để đạt tổng mức vốn điều lệ của Quỹ. Quỹ được sử dụng đến 50% vốn ngân sách Nhà nước cấp để thực hiện các hình thức hỗ trợ lãi suất vay, cho vay ưu đãi, bảo lãnh để vay vốn. Bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ gồm Hội đồng quản lý Quỹ, Cơ quan điều hành Quỹ và Ban kiểm soát Quỹ.
Hội đồng quản lý Quỹ gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên. Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ do Bộ trưởng Bộ KH&CN bổ nhiệm, làm việc theo chế độ chuyên trách. Quỹ ĐMCN Như vậy, Quỹ ĐMCN nếu được thành lập ở một số doanh nghiệp CNQP hay bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tuân theo những quy tắc chung: là tổ chức tài chính, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn, hỗ trợ vốn cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ. Quỹ thuộc các doanh nghiệp có thể có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng.
Đối tượng được Quỹ hỗ trợ tài chính là các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ, dự án nhằm đổi mới quy trình công nghệ, đổi mới sản phẩm, như: CGCN hoặc nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Việt Nam; Chuyển giao, hoàn thiện, sáng tạo công nghệ để sản xuất sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm, sản phẩm quốc gia, sản phẩm 11 z công nghệ cao; Nghiên cứu phát triển công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao của doanh nghiệp; Ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN dựa trên kết quả NCKH và phát triển công nghệ của các cá nhân, tổ chức KH&CN; Nhân rộng, phổ biến, giới thiệu và chuyển giao ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản ở khu vực nông thôn, miền núi; Đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ việc chuyển giao, ứng dụng công nghệ trong doanh nghiệp. Khái niệm năng lực sản xuất Năng lực sản xuất của một trung tâm sản xuất (doanh nghiệp, phân xưởng, dây chuyền sản xuất hay một công đoạn sản xuất) là khả năng sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ cao nhất trong một thời gian nhất định (tháng, quý, năm…) trong điều kiện xác định4. Năng lực sản xuất có thể tính cho một phân xưởng, một công đoạn sản xuất, một dây chuyền hay toàn bộ hệ thống sản xuất. Năng lực sản xuất là một đại lượng động, có thể thay đổi theo thời gian và điều kiện sản xuất.
Nếu thay đổi số lượng thiết bị, diện tích sản xuất, cải tiến quản lý… thì năng lực sản xuất sẽ thay đổi. Năng lực sản xuất phụ thuộc chặt chẽ vào nhân lực sản xuất và phương tiện, công nghệ sản xuất. Các nhân tố ảnh hưởng năng lực sản xuất bao gồm: - Các biến đổi hàng ngày như sự vắng mặt của công nhân, sự hỏng hóc của máy móc thiết bị, các ngày nghỉ, sự trễ nải trong việc cung ứng nguyên vật liệu làm cho kết quả sản xuất của các phương tiện trở nên không chắc chắn; - Tỷ lệ sản xuất các loại sản phẩm khác nhau và các dịch vụ của các loại sản phẩm này cũng khác nhau. Vì thế sự pha trộn số lượng sản phẩm cần được sản xuất phải được tính đến khi hoạch định năng lực của phương tiện sản xuất.
4 Theo TS Nguyễn Văn Nghiên: http://www.com/giaiphap/erp/san-xuat/quan-ly-nang-luc-san-xuat- hieu-qua 12 z - Mức độ sản xuất là bao nhiêu? Khả năng tối đa, năng lực sản xuất dựa trên lịch làm việc là bao nhiêu ngày trong tuần, năng lực sản xuất thực tế dựa trên việc sử dụng phương tiện sản xuất hiện có mà không cần sử dụng đến các máy móc thiết bị dự phòng. Khái niệm các sản phẩm chủ lực Cũng theo Thông tư số 03/2012/TT-BKHCN của Bộ KH&CN ngày 18/1/2012 Hướng dẫn quản lý chương trình ĐMCN quốc gia đến năm 2020, thì: Sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm là sản phẩm được Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước, Bộ, ngành, địa phương. Như vậy, sản phẩm chủ lực của Bộ Quốc phòng chính là những sản phẩm đã được Chính phủ và Bộ Quốc phòng xác định trong Chiến lược phát triển của ngành quốc phòng5. Khái niệm công nghiệp quốc phòng và doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng CNQP là một bộ phận của công nghiệp quốc gia có nhiệm vụ nghiên cứu phát triển, chế tạo, sản xuất, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật, thiết bị chuyên dùng và các sản phẩm khác phục vụ quốc phòng.
Tổng cục CNQP, trực thuộc Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm sản xuất vũ khí, trang bị quân dụng cho quân đội và dân quân tự vệ. Tổng cục CNQP có chức năng tổ chức, quản lý các cơ sở CNQP nòng cốt, bao gồm các viện nghiên cứu thiết kế, công nghệ vũ khí, các nhà máy, các liên hiệp xí nghiệp chế tạo vũ khí, trang bị và các phương tiện kỹ thuật quân sự, đảm bảo cho Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. 5 Chiến lược phát triển ngành quốc phòng theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị năm 2012 13 z Các doanh nghiệp CNQP là các nhà máy, đơn vị sản xuất vũ khí, khí tài thuộc Tổng cục CNQP. Sơ lược về ngành công nghiệp quốc phòng 1.
Tổng quan về các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới (tiền thân của Tổng cục CNQP ngày nay) trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nhiệm vụ thu thập, mua sắm và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí trang bị cho quân đội. Tổ chức gồm các bộ phận: Sưu tầm, mua sắm, phân phối vũ khí; lập các bản vẽ kỹ thuật vũ khí; văn phòng. Đây là cơ quan đầu ngành quân giới Việt Nam.Từ đó, ngày 15 tháng 9 trở thành ngày truyền thống của ngành Quân giới Việt Nam.
Ngày 3 tháng 3 năm 1989, Tổng cục CNQP được thành lập với tên gọi Tổng cục CNQP và Kinh tế trên cơ sở Tổng cục Kinh tế và một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam - Cơ quan Quản lý các nhà máy, Xí nghiệp CNQP.