Chương 1. Cơ sở khoa học về nâng cao năng lực cạnh tranh thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội Chương 3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh thanh toán quốc tế đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm, đặc điểm của thanh toán quốc tế Theo GS. Nguyễn Văn Tiến và cộng sự (2013, trang 14), “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.” So với thanh toán nội thương, thanh toán quốc tế có một số đặc điểm nổi bật sau đây: Thứ nhất, TTQT chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế. Hoạt động TTQT liên quan đến các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia, do đó, các chủ thể khi tham gia vào hoạt động TTQT không những chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia, mà còn phải tuân thủ các văn bản pháp lý quốc tế, các tập quán quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành như UCP, URC, INCOTERMS… Thứ hai, hoạt động TTQT được thực hiện phần lớn qua hệ thống ngân hàng.
Trong thực tiễn, người xuất khẩu và người nhập khẩu không thể và không được phép tiến hành thanh toán trực tiếp cho nhau, mà theo luật định, nhất định phải thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Việc thanh toán qua ngân hàng đảm bảo cho các khoản chi trả được thực hiện một cách an toàn, nhanh chóng và hiệu quả. Thứ ba, tiền mặt hầu như không được sử dụng trực tiếp trong TTQT, mà thay vào đó là các phương tiện thanh toán như hối phiếu, kỳ phiếu, séc. Thứ tư, hoạt động TTQT chịu sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối quốc gia vì ít nhất một trong hai bên (hoặc người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu) có liên quan đến ngoại tệ (trừ khu vực sử dụng đồng tiền chung).
Thứ năm, ngôn ngữ sử dụng trong TTQT được sử dụng chủ yếu bằng tiếng Anh. 5 Thứ sáu, giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế; hoặc luật quốc gia của nước thứ ba; hoặc luật của nước người xuất hay nước người nhập do các bên thỏa thuận thông qua con đường trọng tài hay tòa án. Vai trò của thanh toán quốc tế 1. Đối với nền kinh tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước thì vai trò của hoạt động TTQT ngày càng được khẳng định.
TTQT là mắt xích không thể thiếu trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau, góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hoá tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá trên phạm vi quốc tế. Nếu không có hoạt động TTQT thì hoạt động đối ngoại khó tồn tại và phát triển được. TTQT làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, giúp cho quá trình thanh toán được an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí cho các chủ thể tham gia. Tóm lại, TTQT có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của mỗi quốc gia; được thể hiện chủ yếu trên các mặt sau: - Bôi trơn và thúc đẩy XNK của nền kinh tế như một tổng thể.
- Bôi trơn và thúc đẩy đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. - Thúc đẩy và mở rộng dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế. - Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác. - Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế.
Đối với các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà XNK cũng có thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà thường phải thông qua ngân hàng với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu. Tham gia TTQT qua NHTM, quyền lợi của các doanh nghiệp XNK được đảm bảo hơn qua việc được tư vấn để lựa chọn phương thức thanh toán, kỹ thuật thanh toán cũng như đồng tiền thanh toán nhằm giảm thiểu rủi ro, tạo cho các bên sự tin tưởng lẫn nhau trong quan hệ buôn bán với nước ngoài. 6 Doanh nghiệp XNK được nhận sự tài trợ từ phía ngân hàng khi tham gia vào quá trình TTQT: Ngân hàng sẽ cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu, bảo lãnh thanh toán mở L/C, chiết khấu hoặc ứng trước bộ chứng từ nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu. Đối với ngân hàng Hoạt động TTQT không chỉ là một nghiệp vụ đơn thuần mà còn là một hoạt động nhằm hỗ trợ và bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ XNK…, giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan tới nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
Trên cơ sở đó giúp ngân hàng gia tăng thu nhập, nâng cao uy tín và tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Điều này không chỉ giúp ngân hàng mở rộng qui mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh cho ngân hàng trong cơ chế thị trường. Hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng. Khi thực hiện các nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ TTQT với ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán.
TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Các ngân hàng sẽ áp dụng các công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng qui mô và mạng lưới ngân hàng. Hoạt động TTQT giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng. Các phương thức thanh toán quốc tế Do người trả tiền và người thụ hưởng được phép thỏa thuận nội dung, điều kiện thanh toán, mà mỗi thỏa thuận có thể tạo nên một phương thức thanh toán.
Chính vì vậy, về mặt lý thuyết, có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau trong TTQT. Dưới đây là một số phương thức thanh toán cơ bản thường được áp dụng trong mua bán ngoại thương: 7 1. Phƣơng thức chuyển tiền (Remittance) a. Khái niệm “Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng) theo một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định” (GS.
Nguyễn Văn Tiến và cộng sự, 2013, trang 273). Quy trình nghiệp vụ Sơ đồ 1.1: Quy trình chuyển tiền (5) Ngân hàng chuyển tiền Ngân hàng trả tiền (4) (3) (2) (6) (1) Người yêu cầu Người hưởng lợi (Giáo trình TTQT & TTTM – GS. Nguyễn Văn Tiến) Chú giải: (1) Giao dịch thương mại. (2) Người chuyển tiền yêu cầu Ngân hàng nước mình chuyển ngoại tệ ra nước ngoài.
(3) Ngân hàng chuyển tiền báo nợ tài khoản ngoại tệ của người yêu cầu chuyển tiền. (4) Ngân hàng chuyển tiền phát lệnh thanh toán cho Ngân hàng trả tiền. (5) Ngân hàng trả tiền báo nợ tài khoản Ngân hàng chuyển tiền. (6) Ngân hàng trả tiền báo có tài khoản người hưởng lợi.
Các hình thức chuyển tiền - Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T): Chuyển tiền bằng điện tốc độ nhanh, nhưng chi phí cao và tỷ giá ngoại tệ áp dụng trong điện hối cao hơn tỷ giá ngoại tệ trong thư hối. Ngày nay khi tham gia mạng SWIFT thì hầu hết chuyển tiền được thực hiện trên mạng SWIFT. - Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T): Chuyển tiền bằng thư chi phí thấp hơn chuyển tiền bằng điện, song tốc độ lại chậm hơn. Phƣơng thức nhờ thu a.
Khái niệm “Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó, bên bán (người xuất khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho bên mua (người nhập khẩu) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hoặc chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác” (GS. Nguyễn Văn Tiến và cộng sự, 2013, trang 296). Phân loại và quy trình thực hiện * Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection) “Nhờ thu phiếu trơn là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính, còn các chứng từ thương mại được gửi trực tiếp cho người NK không thông qua ngân hàng” (GS. Nguyễn Văn Tiến và cộng sự, 2013, trang 303).2: Quy trình nhờ thu phiếu trơn (1) Người ủy thác Người trả tiền (2) (3) (8) (6) (5) (4) NHNT NHTH (7) (Giáo trình TTQT & TTTM – GS.
Nguyễn Văn Tiến) Chú giải: (1) Ký kết hợp đồng mua bán (2) Người ủy thác (nhà xuất khẩu) gửi hàng hóa và bộ chứng từ thương mại trực tiếp cho Người trả tiền (nhà nhập khẩu). (3) Nhà xuất khẩu gửi Đơn yêu cầu nhờ thu cùng chứng từ tài chính cho NHNT. (4) NHNT lập và gửi Lệnh nhờ thu cùng chứng từ tài chính tới NHTH để thu tiền từ nhà nhập khẩu. (5) NHTH thông báo Lệnh nhờ thu để nhà nhập khẩu trả tiền nếu là hối phiếu trả ngay, hoặc chấp nhận trả tiền nếu là hối phiếu trả chậm, hoặc chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác.
9 (6) Nhà nhập khẩu trả tiền ngay, hoặc chấp nhận trả tiền. (7) NHTH chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu kỳ hạn đã được chấp nhận cho NHNT. (8) NHNT chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu kỳ hạn đã được chấp nhận cho nhà XK.