CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ c o BẢN VÈ NĂNG L ự c CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VÈ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động kỉnh doanh của ngân hàng thương mại 1.1 Khải niệm NHTM là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng đối với nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường các tổ chức trung gian tài chính như: Công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, công ty bảo hiểm.
đều đang cố gắng thực hiện cung cấp các dịch vụ ngân hàng và ngược lại Ngân hàng cũng đang thực hiện đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thông qua việc cung ứng các dịch vụ môi giới như: Môi giới bất động sản, hoạt động bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán. Điều đó dẫn đến những định nghĩa không hoàn toàn giống nhau về NHTM. Theo luật pháp nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại được xem là một ngân hàng [14,tr6]. Nhà kinh tế học David Begg định nghĩa “NHTM là trung gian tài chính, có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi mà dựa vào đó có thể sử dụng các tờ séc” [6,tr20].
Tại Việt Nam theo điều 4 khoản 2 của luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng họp tác xã” [13,tr34] và “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [13,tr34] và “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; cấp 4 V tín đụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” [13,tr36]'. Luật các tổ chức tín dụng cũng phân biệt các ngân hàng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng: “Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác” [13,tr34].
Như vậy, có thể khái quát: NHTM là mrột loại hình doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm, dịch vụ về tài chính ngân hàng, với nội dung chính là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và dịch vụ tài chính khác.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại a) Cẩu trúc tài sản, cơ cẩu vốn kinh doanh và nguồn sinh lợi nhuận có tính đặc thù riêng. Do NHTM kinh doanh tiền và các giấy tờ có giá khác nên cấu trúc tài sản khác biệt so với cấu trúc tài sản của các doanh nghiệp phi tài chính khác: tài sản chủ yếu là tài sản tài chính. Cơ cấu vốn kinh doanh gồm phần lớn là vốn huy động từ bên ngoài và chỉ một phần nhỏ là vốn tự có của ngân hàng. Nguồn gốc sinh lời cũng khác so với các doanh nghiệp phi tài chính: NHTM chủ yếu kiếm lợi nhuận từ hoạt động cho vay và đầu tư, trong khi đó, các doanh nghiệp phi tài chính kiểm lợi nhuận chủ yểu từ bán hàng hoá.
b) Khách hàng vừa là nhà cung ứng, vừa là người tiêu thụ. Khách hàng có thể cho ngân hàng vay các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong ngắn hạn, đồng thời cũng có thể vay từ ngân hàng cho các mục đích kinh doanh, tiêu dùng khác. c) Quan hệ với khách hàng chủ yếu dựa trên cơ sở tin nhiệm lẫn nhau. Uy tín luôn là yếu tố được đặt lên hàng đầu trong hầu hết các mối quan hệ kinh doanh thông thường khác.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, uy tín càng đóng vai trò quyết định hơn. Điều này được lý giải bởi: - Giá bán (lãi suất) của dịch vụ thường nhỏ hơn nhiều so với giá trị dịch vụ 5 nên sự bù đắp khi xảy ra rủi ro là rất thấp. - Do tính chất vô hình của dịch vụ ngân hàng, khách hàng thường không được thử trước khi sử dụng nên quyết định sử dụng chủ yếu dựa vào niềm tin. - Mối quan hệ trên bắt nguồn từ tính chất thông tin không cân xứng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
d) Chế độ bảo hộ độc quyền cho dịch vụ ngân hàng hầu như không có. Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, các dịch vụ ngân hàng thường không có quy chế bảo hộ độc quyền. Vì vậy, các đối thủ cạnh tranh dễ dàng tung ra các dịch vụ tương tự nếu đáp ứng được các yêu cầu của quy chế. e) Môi trường hoạt động nhạy cảm với thông tin.
Hoạt động kinh doanh của NHTM thường chịu tác động rất lớn bởi các thông tin từ thị trường. Khách hàng dễ mất niềm tin khi tiếp nhận bất kỳ thông tin bất lợi với ngân hàng. Điều này, có thể dẫn đến tình trạng rút tiền hàng loạt và đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thậm trí là phá sản. f) Môi trường hoạt động có tính hợp tác cao.
Hoạt động kinh doanh của một ngân hàng đòi hỏi phải hợp tác chặt chẽ với các ngân hàng khác. Sự hợp tác giúp chia sẻ rủi ro kinh doanh và cùng cung cấp dịch vụ cho khách hàng, tránh tình trạng: sự phá sản của một ngân hàng làm lung lay toàn bộ hệ thống ngân hàng. g) Môi trường hoạt động chịu tác động lớn của các yếu tổ bên ngoài. Hoạt động kinh doanh của NHTM có đặc điểm: - Chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ.
So với các ngành nghề khác, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng chịu sự giám sát cao nhất. Chính phủ phải kiểm soát chặt chẽ hoạt động ngân hàng để: + Đảm bảo an toàn cho các khoản tiết kiệm của công chúng. + Kiểm soát khả năng “tạo tiền” của các NHTM và định hướng hoạt động kinh doanh của NHTM có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế. + Đảm bảo bình đẳng và công khai cho công chúng trong việc tiếp cận các dịch vụ mà NHTM cung cấp.
6 - Chịu tác động của nhiều loại rủi ro như rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối, rủi ro quốc gia. - Chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố của môi trường bên ngoài như tình hình phát triển kinh tế, hệ thống pháp luật, văn hoá tiêu dùng, công nghệ, môi trường cạnh tranh ngành. h) Môi trường hoạt động chịu sự chi phổi mạnh của yếu tố công nghệ. Bên cạnh yếu tố con người, công nghệ chính là chìa khoá quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày nay.
Công nghệ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp (như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ATM và các máy thanh toán thẻ POS/EDC.) và công nghệ quản lý như hệ thống thông tin quản lý, hệ thống quản lý rủi ro.ứng dụng công nghệ cho phép ngân hàng kiểm soát hiệu quả hơn hoạt động kinh doanh, rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ và cung cấp nhiều tiện ích hơn cho khách hàng. Ngày nay, hệ thống máy ATM, máy POS/EDC và internet banking đang dần thay thế một số nhân viên giao dịch của ngân hàng. Chức năng của Ngân hàng thưong mại trong nền kinh tế a. Chức năng tập trung vốn cho nền kinh tế Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh.
Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. NHTM với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay. Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh và qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với sổ lãi suất chênh lệch có được nó sẽ duy trì hoạt động của mình.
7 Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu,. NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty. Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan. Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khoản’thanh toán có giá trị lớn ở mọi nơi mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém, khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản.
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán.) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán được thực hiện qua séc và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống NHTM. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay.