Tổng quan luận án

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở phụ nữ trên thế giới và tại Việt Nam. Theo ước tính, cứ mỗi 5 phút toàn cầu có 3 phụ nữ tử vong vì bệnh lý này. Tại Việt Nam, "Kế hoạch hành động quốc gia dự phòng và kiểm soát UTCTC giai đoạn 2016-2025" và "Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020" đã đặt chỉ tiêu nâng cao tỷ lệ sàng lọc UTCTC ở phụ nữ 30-54 tuổi đạt 20% năm 2015 và 50% năm 2020. Tuy nhiên, việc triển khai chính sách này còn nhiều hạn chế, tỷ lệ phụ nữ được khám sàng lọc định kỳ ở nước ta còn rất thấp (chỉ dao động từ 4,8% đến 9,6%). Báo cáo tại Bệnh viện K (giai đoạn 2007-2011) cho thấy 53,7% - 57,8% bệnh nhân nhập viện ở giai đoạn muộn (từ độ III trở lên); đặc biệt tại tỉnh Bình Định, 100% bệnh nhân UTCTC nhập viện đều ở giai đoạn muộn (53% giai đoạn IV, 29% giai đoạn III và 18% giai đoạn II).

Khoảng trống nghiên cứu lớn nằm ở sự thiếu hụt các bằng chứng thực tiễn về thực trạng kiến thức, thực hành cũng như hiệu quả của các mô hình can thiệp dự phòng UTCTC dựa vào hệ thống y tế cơ sở tại các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xuất phát từ thực tế đó, luận án tiến sĩ y tế công cộng của tác giả Nguyễn Thị Như Tú được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ 15 - 49 tuổi tại tỉnh Bình Định năm 2017.
  2. Đánh giá hiệu quả sau một năm can thiệp nâng cao kiến thức, thực hành dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung ở phụ nữ 15 – 49 tuổi bằng truyền thông và cải thiện cung cấp dịch vụ tại một xã miền núi tỉnh Bình Định.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 (đặc biệt là nhóm 21 - 49 tuổi đã có quan hệ tình dục trong nội dung khám sàng lọc) và cán bộ y tế tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Phạm vi không gian được triển khai tại tỉnh Bình Định; trong đó nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên địa bàn toàn tỉnh, nghiên cứu can thiệp được triển khai tại xã miền núi Canh Hòa (huyện Vân Canh) và chọn xã Vĩnh Kim (huyện Vĩnh Thạnh) làm địa bàn đối chứng. Phạm vi thời gian nghiên cứu và can thiệp thực địa diễn ra trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2018.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học, căn nguyên, các yếu tố nguy cơ, phương pháp sàng lọc và các mô hình can thiệp phòng chống UTCTC:

  • Về gánh nặng bệnh tật và căn nguyên HPV: Tài liệu GLOBOCAN (2018) và IARC chỉ ra mỗi năm Việt Nam có 4.177 ca mắc mới (tỷ lệ chuẩn theo tuổi ASR là 7,1/100.000) và 2.420 ca tử vong (ASR là 4,0/100.000). Walboomers và cộng sự (1999) chứng minh 99,7% trường hợp UTCTC trên thế giới liên quan đến vi rút u nhú ở người (Human Papilloma Virus - HPV), trong đó hai type HPV 16 và 18 chiếm khoảng 70%. Tại Việt Nam, Nguyễn Đức Hinh xác định tỷ lệ nhiễm HPV ở bệnh nhân UTCTC là 91% (type 16 chiếm 47%, type 18 chiếm 21%); Võ Văn Kha ghi nhận 92,9%; Bùi Diệu và Vũ Thị Hoàng Lan ghi nhận các type nguy cơ cao chiếm 80,6%.
  • Về các yếu tố nguy cơ và rào cản hành vi: Các nghiên cứu của Chidyaonga-Maseko (2014), Bingham, Markovic, Ghotbi chỉ ra các rào cản đa tầng từ cá nhân (thiếu hiểu biết, e ngại bộc lộ cơ thể, sợ phát hiện bệnh), cộng đồng (sự kỳ thị bệnh lây truyền qua đường tình dục, vị thế giới thấp) đến hệ thống y tế (khoảng cách địa lý, thiếu nhân lực và vật tư, thời gian chờ đợi lâu, chi phí cao).
  • Về thực trạng kiến thức và thực hành: Các nghiên cứu quốc tế của Aswathy, Raychaudhuri, Roy và Tang (Ấn Độ), Tran và Choe (Hàn Quốc), Abdul-Aziz (Yemen), Yerramilli (Mông Cổ), Di (Trung Quốc) đều ghi nhận tỷ lệ phụ nữ hiểu đúng về yếu tố nguy cơ và cách sàng lọc UTCTC rất thấp. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Bùi Thị Chi, Lê Thị Yến Phi, Huỳnh Thị Thu Thủy, Đặng Đức Nhu, Trần Thị Lợi và Bùi Thị Hồng Nhu, Nguyễn Thanh Hiệp, Phạm Thọ Dược, Lê Thị Phương Mai, Trịnh Hữu Vách, Bùi Thị Thu Hà, Lâm Đức Tâm, Việt Thị Minh Trang cho thấy tỷ lệ làm xét nghiệm Pap smear chỉ đạt 4,8% - 9,6%, tỷ lệ tiêm vắc xin HPV ở phụ nữ dao động dưới 1% (như Trịnh Hữu Vách ghi nhận 0,5%, Trần Thị Vân 0,5%, nghiên cứu ban đầu của tác giả tại Bình Định là 0,4%).
  • Về phương pháp sàng lọc và can thiệp cộng đồng: Nghiên cứu tổng quan của Yabroff (2001) trên 46 nghiên cứu với 63 can thiệp cho thấy can thiệp đơn lẻ thường ít hiệu quả, trong khi can thiệp toàn diện kết hợp hành vi, nhận thức và tổ chức dịch vụ mang lại hiệu quả rõ nét. Phương pháp quan sát cổ tử cung với acid acetic (Visual Inspection with Acetic acid - VIA) được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo là giải pháp thay thế phù hợp, chi phí thấp, cho kết quả tức thì và thích ứng cao với tuyến y tế cơ sở tại các nước đang phát triển.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là thiết kế, triển khai và đánh giá hiệu quả thực tế của một mô hình can thiệp kết hợp giữa "truyền thông giáo dục sức khỏe đa kênh" và "nâng cao năng lực cung ứng kỹ thuật sàng lọc VIA ngay tại Trạm Y tế xã", hướng trọng tâm vào nhóm phụ nữ vùng nông thôn, miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Bình Định.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết phân tích

Luận án áp dụng Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM) do Rosenstock (1966), Stanhope và Lancaster phát triển. Khung lý thuyết gồm 3 hợp phần chính được vận dụng vào phòng ngừa UTCTC:

  1. Nhận thức cá nhân: Nhận thức về tính nhạy cảm/khả năng dễ mắc bệnh và nhận thức về mức độ nghiêm trọng của UTCTC.
  2. Các yếu tố hỗ trợ: Đặc điểm nhân khẩu học, trình độ văn hóa, khoảng cách địa lý đến cơ sở y tế, khả năng tiếp cận thông tin và truyền thông đại chúng.
  3. Khả năng hành động: Nhận thức về lợi ích của việc khám sàng lọc/tiêm vắc xin, đánh giá các rào cản (chi phí, tâm lý e ngại, rào cản văn hóa) và các tín hiệu thúc đẩy hành động (sự tư vấn của cán bộ y tế, lời nhắc nhở từ cộng đồng).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng:

Hợp phần nghiên cứu Giai đoạn 1: Mô tả cắt ngang (2017) Giai đoạn 2: Can thiệp cộng đồng (2017 - 2018)
Thiết kế Điều tra dịch tễ học mô tả cắt ngang có phân tích. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, đánh giá trước - sau (TCT - SCT).
Địa bàn Địa bàn toàn tỉnh Bình Định. Xã can thiệp: Canh Hòa (Vân Canh); Xã chứng: Vĩnh Kim (Vĩnh Thạnh).
Cỡ mẫu & Đối tượng $n = 1.200$ phụ nữ 15 - 49 tuổi được chọn theo phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn. Định lượng: Phụ nữ 15 - 49 tuổi tại 2 xã TCT và SCT. Định tính: Phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) cán bộ y tế, người dân.
Công cụ & Kỹ thuật Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc chuẩn hóa; quy ước thang điểm phân loại kiến thức; khám phụ khoa. Bảng hỏi phỏng vấn trước - sau; sổ theo dõi khám sàng lọc VIA tại Trạm Y tế xã; hướng dẫn PVS và TLN.
Xử lý số liệu Nhập liệu bằng phần mềm chuyên dụng, phân tích mô hình hồi quy logistic đơn biến và đa biến để xác định yếu tố liên quan. So sánh tỷ lệ trước - sau giữa nhóm can thiệp (NCT) và nhóm chứng (NC), tính chỉ số Hiệu quả can thiệp ($HQCT%$).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở khoa học về UTCTC từ dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh đến các chiến lược can thiệp. Tác giả trình bày chi tiết về vi rút HPV – nguyên nhân cần thiết gây UTCTC, trong đó các tổn thương tế bào vùng chuyển tiếp cổ trong và cổ ngoài tiến triển qua các giai đoạn loạn sản nhẹ, vừa, nặng thành ung thư xâm lấn trong 10 - 20 năm ở người có miễn dịch bình thường (5 - 10 năm ở người suy giảm miễn dịch). Chương này phân tích các cấp độ dự phòng (cấp 1: vắc xin HPV và tình dục an toàn; cấp 2: sàng lọc VIA, VILI, Pap smear, HPV DNA; cấp 3: điều trị ung thư và chăm sóc giảm nhẹ).

Tác giả so sánh chi tiết giữa Pap smear và VIA, nhấn mạnh Pap smear đòi hỏi labo tế bào học phức tạp nên độ bao phủ tại các nước đang phát triển chỉ đạt dưới 10%, trong khi VIA có độ nhạy tương đương (66% - 96%), cho kết quả ngay, giá thành thấp và chuyển giao được cho trạm y tế xã. Chương 1 cũng phân loại các nhóm yếu tố nguy cơ (hành vi tình dục sớm, sinh nhiều con, dùng thuốc tránh thai kéo dài trên 5 năm, hút thuốc lá, điều kiện kinh tế thấp) và tổng quan 3 nhóm rào cản (cá nhân, cộng đồng, hệ thống y tế) làm nền tảng cho việc vận dụng Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM).

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày chi tiết phương pháp luận của hai giai đoạn nghiên cứu:

  • Nghiên cứu mô tả cắt ngang: Triển khai trên 1.200 phụ nữ 15 - 49 tuổi tại Bình Định năm 2017. Xây dựng bộ công cụ gồm các phần: thông tin nhân khẩu, hành vi phơi nhiễm, kiến thức về nguyên nhân, triệu chứng, phát hiện sớm, vắc xin HPV và thực hành khám sàng lọc. Quy ước điểm số phân loại kiến thức được thiết lập chặt chẽ.
  • Nghiên cứu can thiệp: Thiết kế can thiệp có so sánh trước - sau tại xã can thiệp Canh Hòa và xã chứng Vĩnh Kim. Nội dung mô hình can thiệp tại xã Canh Hòa gồm 2 nhóm hoạt động chính:
    1. Truyền thông giáo dục sức khỏe đa hình thức: Tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh xã/thôn, cấp phát tờ rơi, tư vấn trực tiếp tại hộ gia đình và lồng ghép sinh hoạt đoàn thể, tập trung vào phụ nữ dân tộc thiểu số và điều kiện kinh tế khó khăn.
    2. Nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ tại y tế xã: Đào tạo kỹ thuật khám sàng lọc bằng test VIA cho cán bộ Trạm Y tế xã Canh Hòa dưới sự hỗ trợ của Đội Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em - Kế hoạch hóa gia đình (BVBMTE-KHHGĐ) huyện Vân Canh; trang bị dụng cụ khám, acid acetic 3-5%; thiết lập quy trình sàng lọc và chuyển tuyến an toàn.
  • Các biện pháp kiểm soát sai số, tiêu chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học và phương pháp phân tích thống kê (hồi quy logistic, tính toán chỉ số HQCT) được mô tả chuẩn mực.

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ

Chương 3 trình bày các phát hiện số liệu từ điều tra cắt ngang và kết quả đánh giá can thiệp sau 1 năm:

1. Thực trạng kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan năm 2017:

  • Tỷ lệ phụ nữ 15 - 49 tuổi tại Bình Định có kiến thức đúng chung về UTCTC đạt 31,5%.
  • Kiến thức về sàng lọc và vắc xin rất hạn chế: tỷ lệ từng nghe nói đến xét nghiệm Pap smear là 28,5%; tỷ lệ hiểu đúng về mục đích của xét nghiệm chỉ ở mức thấp.
  • Thực hành khám sàng lọc Pap smear ở phụ nữ 21 - 49 tuổi đã có quan hệ tình dục chỉ đạt 5,1%.
  • Tỷ lệ phụ nữ 15 - 49 tuổi tiêm đủ 3 mũi vắc xin HPV phòng UTCTC chỉ đạt 0,4%.
  • Phân tích hồi quy logistic cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$): Phụ nữ sống ở nông thôn/miền núi, học vấn tiểu học/mù chữ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, người đồng bào dân tộc thiểu số và nhóm chưa từng tiếp cận thông tin y tế có tỷ lệ kiến thức đúng và thực hành sàng lọc thấp hơn rõ rệt so với nhóm phụ nữ thành thị, học vấn cao và kinh tế khá.

2. Hiệu quả của chương trình can thiệp sau 1 năm tại xã Canh Hòa:

Nhóm chỉ số đánh giá Trước can thiệp (TCT) Sau can thiệp (SCT) Hiệu quả can thiệp ($HQCT%$)
Kiến thức chung đúng về UTCTC Tỷ lệ ban đầu tại xã can thiệp thấp, tương đương xã chứng. Tăng lên rõ rệt ở xã can thiệp Canh Hòa so với xã chứng Vĩnh Kim. Cải thiện đáng kể kiến thức về triệu chứng, yếu tố nguy cơ và cách dự phòng.
Kiến thức về nhiễm HPV và vắc xin Tỷ lệ nhận biết đúng rất thấp ở giai đoạn ban đầu. Gia tăng có ý nghĩa thống kê sau các đợt truyền thông đa kênh. Đạt mức chuyển biến rõ rệt về nhận thức tiêm chủng và sàng lọc.
Thực hành sàng lọc UTCTC bằng VIA Tỷ lệ phụ nữ khám sàng lọc VIA tại Trạm Y tế xã trước can thiệp gần như bằng 0. Tăng vọt trong các đợt chiến dịch và khám phụ khoa lồng ghép tại xã. Thiết lập thành công tỷ lệ tiếp cận dịch vụ sàng lọc VIA tại trạm y tế xã.
Khám phụ khoa định kỳ Tỷ lệ tham gia khám phụ khoa ở mức thấp trước can thiệp. Tăng cao sau khi được truyền thông, tư vấn và cung cấp dịch vụ thuận tiện. Tăng cường rõ rệt tỷ lệ sử dụng dịch vụ CSSKSS tại cơ sở.

CHƯƠNG 4 - BÀN LUẬN

Chương 4 tập trung bàn luận sâu về các kết quả thu được:

  • So sánh thực trạng tại Bình Định với các địa phương khác (Hà Nội, TP.HCM, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Phú Thọ) để chứng minh tính phổ quát của tình trạng thiếu hụt kiến thức và tỷ lệ sàng lọc thấp tại Việt Nam.
  • Phân tích các yếu tố hành vi và rào cản tiếp cận: Phụ nữ miền núi chịu rào cản kép từ điều kiện kinh tế, tập tục văn hóa, tâm lý ngại ngùng khi bộc lộ vùng kín trước nhân viên y tế và khoảng cách địa lý đến bệnh viện tuyến trên.
  • Đánh giá tính phù hợp và khả năng thực thi của mô hình can thiệp dựa vào y tế xã: Việc đưa kỹ thuật VIA về Trạm Y tế xã Canh Hòa giúp loại bỏ rào cản chi phí đi lại, cung cấp kết quả tại chỗ, giúp phụ nữ tiếp cận dịch vụ sàng lọc chủ động và thuận tiện.
  • Bàn luận về tính bền vững và khả năng nhân rộng: Mô hình đã tận dụng hệ thống y tế sẵn có, phối hợp chặt chẽ giữa Trạm Y tế, UBND, Hội Phụ nữ xã và Trung tâm Y tế huyện Vân Canh. Tác giả khẳng định mô hình có đầy đủ cơ sở thực tiễn để nhân rộng cho toàn bộ 159 xã trên địa bàn tỉnh Bình Định.
  • Phân tích khó khăn, hạn chế của nghiên cứu (thời gian can thiệp 1 năm, đặc thù địa bàn miền núi khó đi lại) và các giải pháp đã triển khai để khống chế sai số.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học toàn diện, có giá trị khoa học về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống UTCTC và các yếu tố liên quan của phụ nữ 15 - 49 tuổi tại tỉnh Bình Định.
  • Kiểm chứng thực nghiệm thành công việc ứng dụng Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) trong việc phân tích hành vi và thiết kế can thiệp y tế công cộng về dự phòng UTCTC tại cộng đồng nông thôn, miền núi Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Xây dựng và triển khai thành công mô hình can thiệp tích hợp: "Truyền thông giáo dục sức khỏe đa kênh phù hợp văn hóa địa phương kết hợp nâng cao năng lực cung ứng kỹ thuật sàng lọc VIA tại Trạm Y tế xã".
  • Chứng minh tính khả thi, hiệu quả và chi phí thấp của phương pháp sàng lọc bằng mắt thường với acid acetic (VIA) do cán bộ y tế tuyến xã thực hiện, giúp phát hiện sớm tổn thương tiền ung thư ngay tại cơ sở.
  • Cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng cho Sở Y tế Bình Định và Bộ Y tế trong việc hoạch định chính sách, làm tiền đề để nhân rộng mô hình sàng lọc VIA tại 159 xã của tỉnh Bình Định và các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Đối với ngành Y tế tỉnh Bình Định: Xây dựng kế hoạch nhân rộng mô hình truyền thông và sàng lọc UTCTC bằng VIA ra toàn bộ các trạm y tế xã trên địa bàn tỉnh, ưu tiên các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa.
  2. Đối với y tế cơ sở: Thường xuyên tập huấn nâng cao tay nghề thực hiện kỹ thuật VIA cho nữ hộ sinh và y sĩ sản nhi tuyến xã; duy trì cung ứng đầy đủ vật tư (mỏ vịt, acid acetic, bông gạc, dung dịch sát khuẩn).
  3. Đối với công tác truyền thông: Đa dạng hóa hình thức truyền thông giáo dục sức khỏe, biên soạn tài liệu song ngữ hoặc truyền thông trực tiếp qua mạng lưới y tế thôn bản và Hội Phụ nữ để phá bỏ rào cản e ngại, nâng cao tỷ lệ tham gia khám sàng lọc và tiêm vắc xin HPV.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:

    • Thời gian can thiệp và theo dõi được đánh giá sau 1 năm, do đó chưa đo lường được tác động dài hạn đối với việc làm giảm tỷ lệ mắc mới và tử vong do UTCTC xâm lấn trên quần thể.
    • Nghiên cứu can thiệp chọn điểm tại xã miền núi Canh Hòa (huyện Vân Canh), nơi có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, nên một số yếu tố can thiệp mang tính đặc thù địa phương cần được điều chỉnh linh hoạt khi áp dụng tại các vùng đồng bằng hoặc đô thị.
    • Việc mở rộng tỷ lệ tiêm vắc xin HPV còn gặp rào cản lớn về giá thành vắc xin trên thị trường do chưa được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng miễn phí.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tính bền vững của mô hình can thiệp sau 3 - 5 năm triển khai tại xã Canh Hòa và các xã nhân rộng.
    • Nghiên cứu mở rộng việc kết hợp phương pháp quan sát cổ tử cung với Lugol (VILI) hoặc triển khai tự lấy mẫu xét nghiệm HPV DNA tại cộng đồng để tối ưu hóa hiệu quả sàng lọc ở các vùng địa lý khác nhau.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng trong nghiên cứu và thực hành y tế công cộng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Sản phụ khoa: Tham khảo khung phương pháp luận kết hợp nghiên cứu mô tả cắt ngang và can thiệp cộng đồng có đối chứng; phương pháp vận dụng Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) trong nghiên cứu thay đổi hành vi sức khỏe.
  • Cán bộ quản lý y tế (Sở Y tế, Trung tâm Y tế tuyến huyện): Cung cấp cơ sở thực chứng và hướng dẫn kỹ thuật để xây dựng kế hoạch triển khai Kế hoạch hành động quốc gia phòng chống UTCTC tại địa phương.
  • Cán bộ y tế tuyến xã và nhân viên y tế thôn bản: Tham khảo quy trình tổ chức khám sàng lọc VIA tại trạm y tế, kỹ năng truyền thông tư vấn trực tiếp và quy trình theo dõi, chuyển tuyến phụ nữ có tổn thương cổ tử cung.

Câu hỏi thường gặp

1. Căn nguyên chính gây ung thư cổ tử cung được xác định trong luận án là gì?
Căn nguyên cần thiết gây UTCTC là do nhiễm vi rút u nhú ở người (Human Papilloma Virus - HPV), đặc biệt là các type nguy cơ cao. Nghiên cứu tổng quan của Walboomers chỉ ra 99,7% ca UTCTC trên thế giới có sự hiện diện của HPV; trong đó hai type HPV 16 và 18 chịu trách nhiệm cho khoảng 70% các trường hợp UTCTC và tổn thương tiền ung thư.

2. Tại sao luận án lựa chọn phương pháp VIA thay vì Pap smear để can thiệp tại Trạm Y tế xã?
Xét nghiệm Pap smear đòi hỏi trang thiết bị labo hiện đại, kỹ thuật viên tế bào học có kinh nghiệm và thời gian chờ đợi kết quả dài, dễ dẫn đến mất dấu bệnh nhân và khó duy trì ở vùng khó khăn. Ngược lại, phương pháp quan sát cổ tử cung với acid acetic (VIA) có quy trình kỹ thuật đơn giản, chi phí rẻ, độ nhạy tương đương tế bào học (66% - 96%), cho kết quả tức thì tại chỗ và dễ dàng đào tạo, chuyển giao cho cán bộ y tế trạm y tế xã thực hiện.

3. Thực trạng kiến thức và thực hành phòng UTCTC của phụ nữ tỉnh Bình Định trước can thiệp (năm 2017) như thế nào?
Số liệu điều tra trên 1.200 phụ nữ cho thấy: tỷ lệ có kiến thức đúng chung về UTCTC chỉ đạt 31,5%; tỷ lệ từng nghe nói về xét nghiệm Pap smear là 28,5%; tỷ lệ phụ nữ 21 - 49 tuổi đã quan hệ tình dục từng làm xét nghiệm sàng lọc Pap smear đạt 5,1%; và tỷ lệ phụ nữ 15 - 49 tuổi tiêm đủ 3 mũi vắc xin HPV chỉ đạt 0,4%.

4. Mô hình can thiệp tại xã Canh Hòa gồm những hoạt động trọng tâm nào?
Mô hình can thiệp tích hợp 2 hoạt động chính: (1) Truyền thông giáo dục sức khỏe đa kênh (qua loa truyền thanh xã, phát tờ rơi, tư vấn hộ gia đình, lồng ghép sinh hoạt đoàn thể); (2) Nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ tại trạm y tế (đào tạo kỹ thuật sàng lọc VIA cho cán bộ y tế xã, trang bị dụng cụ khám và tổ chức các đợt khám sàng lọc VIA miễn phí tại Trạm Y tế xã Canh Hòa).

5. Tình trạng giai đoạn bệnh của bệnh nhân UTCTC khi nhập viện tại tỉnh Bình Định trước đây ra sao?
Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn, 100% bệnh nhân UTCTC tại Bình Định đều nhập viện ở giai đoạn muộn: 53% ở giai đoạn IV, 29% ở giai đoạn III và 18% ở giai đoạn II; không có trường hợp nào được phát hiện và nhập viện ở giai đoạn sớm (giai đoạn I hoặc tiền ung thư).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Như Tú đã phản ánh một cách khoa học thực trạng thiếu hụt kiến thức và tỷ lệ thực hành phòng ngừa UTCTC rất thấp ở phụ nữ tỉnh Bình Định năm 2017, đồng thời xác định rõ các rào cản nhân khẩu học và kinh tế - xã hội liên quan. Nghiên cứu đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả rõ rệt của mô hình can thiệp kết hợp giữa truyền thông giáo dục sức khỏe đa hình thức với nâng cao năng lực sàng lọc bằng test VIA trực tiếp tại trạm y tế xã miền núi. Kết quả của luận án cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn tin cậy và mô hình điểm có giá trị ứng dụng cao để nhân rộng công tác dự phòng, kiểm soát UTCTC ra toàn bộ 159 xã của tỉnh Bình Định cũng như các khu vực có điều kiện tương đồng.