Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị toàn cầu, và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử của một số quốc gia Chương 2: Thực trạng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử của Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của hàng điện tử Việt Nam 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU HÀNG ĐIỆN TỬ, VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 1. Các khái niệm về chuỗi giá trị toàn cầu Micheal Porter đã mô tả và phổ cập lần đầu tiên vào năm 1985 trong một cuốn sách về phân tích lợi thế cạnh tranh của ông về “chuỗi giá trị”, hay còn được biết đến là “chuỗi giá trị phân tích”, là một khái niệm từ quản lý kinh doanh: “Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động của một công ty hoạt động trong một ngành cụ thể. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản xuất thu được một số giá trị nào đó.
Chuỗi các hoạt động mang lại sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của các hoạt động cộng lại". B (1985), căn bản thì: “chuỗi giá trị toàn cầu là một tiến trình mà trong đó công nghệ, các nguồn nguyên liệu và lao động được kết hợp với nhau. Chuỗi giá trị toàn cầu được xác định khi các công đoạn sản xuất, lắp ráp, marketing và phân phối đối với thành phẩm không chỉ có một quốc gia tham dự”. Kaplinsky và Morri (2001) đã đưa ra khái niệm: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng”.
Một chuỗi giá trị sẽ tồn tại khi tất cả các mắt xích trong chuỗi hoạt động để tạo ra giá trị tối đa cho chuỗi. 5 Tóm lại, trước hết theo Micheal Porter, ta có thể hiểu định nghĩa về chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp là: “Một chuỗi giá trị sẽ bao gồm một loạt các hoạt động được thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Trong đó mọi hoạt động từ: thiết kế, quá trình thêm nguyên liệu đầu vào, sản xuất, phân phối thành phẩm, marketing và bán hàng, thực hiện các dịch vụ sau bán hàng đã tạo thành một chuỗi liên kết người sản xuất với người tiêu dùng. Bên cạnh đó, mỗi giai đoạn lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng”.
Ví dụ, như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng cho khách hàng thông qua việc điền số điện thoại vào các sản phẩm của mình để khách hàng có thể sử dụng để khiếu nại, đòi bồi thường, hỏi thông tin hoặc là đóng góp ý kiến đối với công ty cũng làm tăng giá trị chung của sản phẩm. Hãng Samsung cũng đã in số điện thoại (miễn phí cuộc gọi đến) trên các hộp điện thoại mà họ bán ra, vì vậy mỗi khi khách hàng có khiếu nại Samsung sẽ chuyển nội dung hộp thư thoại tới người quản lý cửa hàng, nhân viên cửa hàng này bắt buộc phải gọi lại cho khách hàng trong vòng 48h và giải quyết thỏa đáng cho khách hàng. Hay nói cách khác, một khách hàng sẽ có thể sẵn sàng trả giá cao hơn đối với một sản phẩm có dịch vụ chăm sóc tốt hơn. Như vậy nếu các công ty đầu tư tốt vào hệ thống chăm sóc sau bán hàng và làm hài lòng khách hàng hơn thì sẽ làm tăng giá trị sản phẩm.
Trong thực tế thì các chuỗi giá trị thường phức tạp hơn nhiều. B (1985) hay Kaplinsky và Morri (2001): “Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ) để biến một nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,…”. Theo nghĩa rộng này thì chúng ta sẽ không xét đến những hoạt động chỉ do một doanh nghiệp tiến hành, mà cần xét cả các mối liên kết ngược xuôi, 6 cho đến khi nguyên liệu đầu vào được sản xuất và kết nối được với người tiêu dùng cuối cùng. Mở rộng ra hơn nữa chính là chuỗi giá trị toàn cầu, khi đó các hoạt động của chuỗi có thể được thực hiện bởi nhiều doanh nghiệp và được diễn ra trên phạm vi toàn thế giới.
Giá cước vận tải giảm, tự do hoá thương mại và đầu tư, sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông khiến các công ty có thể dễ dàng thành lập các chi nhánh và bộ phận sản xuất, kinh doanh để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn ở khắp nơi trên thế giới. Những chức năng khác nhau có thể được chuyển đến những nơi khác nhau nhằm đạt hiệu quả hơn, ví dụ, thiết kế ở Bắc Mỹ và châu Âu, còn sản xuất, chế tạo tại Trung Quốc, dịch vụ sau bán hàng ở Ấn Độ. Đó chính là cơ sở để hình thành nên các chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu. Vậy, chuỗi giá trị toàn cầu có thể được hiểu là một chuỗi những khâu cần thiết để một sản phẩm hay dịch vụ từ khi chỉ là ý tưởng, thông qua các quá trình sản xuất khác nhau cho tới khi thành sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng, sau đó bị bỏ đi khi đã hết giá trị sử dụng.
Đặc điểm chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử Ngành điện tử thế giới ra đời và phát triển gắn liền với sáng kiến vĩ đại về chất bán dẫn (semi conductor). Các sản phẩm từ điện tử công nghiệp đến gia dụng đều bắt nguồn từ chất này có thể kể đến như: Các thiết bị giải trí gia đình; các loại máy quay phim, máy vi tính, điện thoại di động; cơ sở hạ tầng internet; trang thiết bị y tế; ô tô và các thiết bị điện tử trong ô tô… Ngày nay không một ngành công nghiệp nào không liên quan đến điện tử. Linh kiện chủ đạo trong các thiết bị điện tử là chất bán dẫn đã nổi lên với tầm ảnh hưởng cực lớn kể từ bốn thập kỷ qua của nền kinh tế thế giới và có tầm ảnh hưởng ở rất nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Không thể phủ nhận rằng công nghệ này chính là yếu tố căn bản của thời đại kỹ thuật số… 7 Ngành công nghiệp bán dẫn là ngành đầu tiên được mang danh "Nhà máy toàn cầu" vì sản phẩm của nó đã sớm được lắp ráp ở nước ngoài.
Chính ngành công nghiệp bán dẫn đã tạo nên quy mô sản xuất toàn cầu bao gồm các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất. Thông thường, giai đoạn thiết kế, nghiên cứu phát triển và những giai đoạn sản xuất phức tạp khác vẫn được thực hiện ở những nước phát triển nơi có lao động chất lượng cao và cơ sở hạ tầng cần thiết phục vụ cho việc sản xuất hàng điện tử. Các nước đang phát triển sẽ là nơi thực hiện công đoạn lắp ráp từ đầu vào cho đến khi ghép thành sản phẩm cuối cùng. Có rất nhiều chuỗi giá trị khác nhau như chuỗi giá trị ngành dệt may, chuỗi giá trị ngành thép, chuỗi giá trị ngành nhựa, chuỗi giá trị ngành dược,… và cả chuỗi giá trị ngành điện tử.
Điểm chung của các chuỗi giá trị này đều là nhiều hãng có thể tham gia vào các khâu trong chuỗi và tạo ra các giá trị gia tăng khác nhau. Tuy nhiên, đối với chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử, điểm khác biệt là do đặc thù hàng điện tử cần dịch vụ bảo hành sau bán hàng nên chuỗi có một khâu quan trọng cuối cùng là khâu dịch vụ khách hàng. Chuỗi giá trị có vai trò vô cùng quan trọng đối với hàng điện tử. Nhờ có chuỗi giá tri ̣ mà ngành công nghiệp điện tử được chuyên môn hóa cao, giảm thiểu được chi phí sản xuất, tận dụng tố i đa đươ ̣c lơ ̣i thế ca ̣nh tranh của các quố c gia.
Nhờ có chuỗi giá tri ̣mà có thể sản xuấ t ra các sản phẩ m điê ̣n tử giá rẻ nhưng lại có chất lươ ̣ng vượt trội. Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử 1. Chuỗi giá trị toàn cầu do người sản xuất chi phối Đối với chuỗi giá trị toàn cầu hướng theo nhà sản xuất thì doanh nghiệp sản xuất lớn đóng vai trò chính trong hệ thống sản xuất, bao gồm cả liên kết ngược chiều và xuôi chiều, vốn chi phối là vốn công nghiệp. Đây 8 chính là các ngành thâm dụng vốn và công nghệ cao như ô tô, máy bay, máy vi tính, chất bán dẫn, chế tạo máy,… Các công ty đa quốc gia sẽ thu về lợi nhuận chính và lợi nhuận nhiều hay ít còn phụ thuộc vào qui mô, số lượng và sự vượt trội về công nghệ của mỗi công ty.
Đối với mặt hàng điện tử nói riêng thì các ngành đặc thù là các thiết bị điện tử trên ô tô, máy bay, trong máy vi tính, chất bán dẫn… 1. Chuỗi giá trị toàn cầu do người mua chi phối Chuỗi giá trị toàn cầu hướng theo người mua bao gồm: Các nhà bán lẻ lớn, các nhà marketing, các nhà sản xuất có thương hiệu mạnh và có vai trò then chốt trong việc hình thành mạng lưới sản xuất tập trung ở các nước xuất khẩu khác nhau trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển có vốn chi phối là vốn thương mại. Mô hình này là đặc trưng chung của các ngành thâm dụng lao động, sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, da giầy, đồ chơi,… Trong hệ thống này các nhà thầu của thế giới thứ ba chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm cuối cùng cho người tiêu dùng nước ngoài. Các nhà bán lẻ lớn hay các nhà bán buôn đặt hàng các sản phẩm với các đặc tính rõ ràng.
Với ngành công nghiệp điện tử thì mặt hàng đặc thù là máy vi tính, điện thoại di động,… Các hãng công nghệ lớn như Dell, Apple,… đã bỏ đi mảng sản xuất của mình, hoàn toàn tập trung vào khâu nghiên cứu, thiết kế, marketing và phân phối. Họ thuê các hãng sản xuất khác gọi là OEM (Original Equipment Manufacturer) nhằm sản xuất sản phẩm theo thiết kế mà họ đưa ra.