Nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử Việt Nam

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của hàng điện tử việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Ngành điện tử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2017

106
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU HÀNG ĐIỆN TỬ, VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

1.1. Khái quát chung về chuỗi giá trị toàn cầu

1.2. Các khái niệm về chuỗi giá trị toàn cầu

1.3. Đặc điểm chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử

1.4. Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử

1.5. Chuỗi giá trị toàn cầu do người sản xuất chi phối

1.6. Chuỗi giá trị toàn cầu do người mua chi phối

1.7. Vai trò và các yếu tố cấu thành chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử

1.7.1. Vai trò của chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử

1.7.2. Các yếu tố cấu thành chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử

1.8. Các điều kiện để một quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử

1.8.1. Điều kiện công nghệ

1.8.2. Điều kiện môi trường thể chế

1.8.3. Điều kiện khách hàng quốc tế

1.8.4. Điều kiện nguồn nhân lực

1.9. Kinh nghiệm của một số quốc gia về giải pháp tăng cường khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử

1.9.1. Kinh nghiệm của Malaysia

1.9.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

1.9.3. Bài học rút ra cho Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA VIỆT NAM

2.1. Khái quát chung về ngành điện tử Việt Nam

2.2. Sự ra đời và phát triển của ngành điện tử Việt Nam

2.3. Tình hình sản xuất, công nghệ của ngành điện tử Việt Nam

2.4. Tình hình xuất nhập khẩu hàng điện tử của Việt Nam

2.5. Điều kiện để hàng điện tử Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

2.6. Vị trí của hàng điện tử Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

2.7. Phân tích thực trạng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của hàng điện tử Việt Nam

2.7.1. Khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm

2.7.2. Khả năng thiết kế sản phẩm

2.7.3. Khả năng sản xuất linh kiện và lắp ráp thành phẩm

2.7.4. Khả năng marketing

2.7.5. Khả năng phân phối và bán hàng

2.7.6. Khả năng cung cấp dịch vụ khách hàng

2.8. Đánh giá chung về thực trạng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của hàng điện tử Việt Nam

2.8.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân

2.8.2. Những hạn chế còn tồn tại

2.8.3. Nguyên nhân gây ra những hạn chế

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA HÀNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

3.1. Định hướng và mục tiêu phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030

3.2. Định hướng phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam

3.3. Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam

3.4. Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của hàng điện tử Việt Nam

3.4.1. Phát triển công nghiệp hỗ trợ phục vụ ngành công nghiệp điện tử

3.4.2. Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp điện tử

3.4.3. Phát triển, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu cho ngành công nghiệp điện tử

3.4.4. Thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp điện tử hàng đầu trên thế giới

3.4.5. Đổi mới và đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến FDI vào ngành điện tử

3.4.6. Hình thành các cụm công nghiệp điện tử (cluster)

3.4.7. Tăng cường khả năng nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp điện tử Việt Nam

3.5. Một số kiến nghị nhằm tăng cường khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của hàng điện tử Việt Nam

3.5.1. Một số kiến nghị đối với hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam

3.5.2. Một số kiến nghị đối với doanh nghiệp điện tử

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chuỗi Giá Trị Ngành Điện Tử Việt Nam Hiện Nay

Ngành công nghiệp điện tử Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp đã nỗ lực sản xuất và lắp ráp các sản phẩm điện tử phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, ngành điện tử đã trở thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng, hướng vào xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các mặt hàng điện tử dần vươn lên vị trí hàng đầu trong các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, Việt Nam chủ yếu tham gia vào khâu lắp ráp, gia công, là khâu có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi.

1.1. Khái niệm và đặc điểm chuỗi giá trị toàn cầu điện tử

Chuỗi giá trị toàn cầu có thể được hiểu là một chuỗi các khâu cần thiết để một sản phẩm hay dịch vụ từ khi chỉ là ý tưởng, thông qua các quá trình sản xuất khác nhau cho tới khi thành sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Đặc điểm của chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử là bao gồm nhiều công đoạn khác nhau trên quy mô toàn cầu trong quá trình sản xuất, nhiều hãng có thể tham gia vào các khâu trong chuỗi và tạo ra các giá trị gia tăng khác nhau. Nhờ có chuỗi giá trị mà có thể sản xuất ra các sản phẩm điện tử giá rẻ nhưng lại có chất lượng vượt trội.

1.2. Vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị điện tử toàn cầu

Hiện tại, đối với mặt hàng điện tử, Việt Nam mới chỉ tham gia được vào khâu sản xuất – lắp ráp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Bất kỳ doanh nghiệp nào có đóng góp vào quá trình sản xuất một sản phẩm xuất khẩu đều có thể coi là đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử. Việc tiếp cận phân chia lao động quốc tế theo chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử sẽ giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về điểm mạnh cũng như vị trí của mình trên thị trường thế giới, từ đó có thể chủ động lựa chọn công đoạn tham gia phù hợp nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

II. Thách Thức Khi Tham Gia Chuỗi Giá Trị Điện Tử Toàn Cầu

Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, ngành điện tử Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu và công nghệ nước ngoài. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn hạn chế, đặc biệt là trong các khâu nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế sản phẩm và marketing. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, gây khó khăn cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

2.1. Hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt

Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn yếu thể hiện rõ ở quy mô vốn nhỏ, kinh nghiệm quản lý kinh doanh, công nghệ, trình độ cán bộ còn yếu, năng suất lao động thấp. Tầm và quy mô của doanh nghiệp chưa đáp ứng những khách hàng có yêu cầu rất cao về chất lượng, thời gian, giá cả và quy mô. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm chưa cao, chủng loại sản phẩm nghèo nàn, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành thì cao do chi phí về nguyên liệu và linh kiện tại Việt Nam cao hơn của các nước trong khu vực, chưa có thương hiệu sản phẩm điện tử mạnh.

2.2. Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao ngành điện tử

Vấn đề thu hút nhân tài và nâng cao chất lượng lao động còn kém, việc tuyển dụng đội ngũ lao động có chất xám của các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng đè nặng lên hệ thống đại học của Việt Nam. Đào tạo đầu ra còn chưa đáp ứng được nhu cầu việc làm, chưa xây dựng được đội ngũ nguồn nhân lực đủ mạnh thích ứng với yêu cầu đi trước đón đầu công nghệ. Việt Nam vẫn còn thiếu những lao động có tay nghề, những doanh nghiệp công nghiệp điện tử mạnh với sức cạnh tranh cao.

2.3. Sự phụ thuộc vào nguyên liệu và công nghệ nhập khẩu

Do yếu kém về nội lực nên hầu hết các nguyên vật liệu và linh kiện đầu vào phục vụ cho công nghiệp chế biến, chế tạo đều phải nhập khẩu, sản phẩm cuối cùng không tạo ra giá trị gia tăng cao. Không chỉ thế, trung nguồn và các công đoạn ở thượng nguồn, hạ nguồn của chuỗi giá trị mà các sản phẩm lắp ráp của Việt Nam thường mang thương hiệu những công ty khác chứ chưa phát triển được các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam.

III. Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngành Điện Tử

Để nâng cao năng lực cạnh tranh ngành điện tử, cần có các giải pháp đồng bộ từ phía nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan. Cần tập trung vào phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực R&D và phát triển thương hiệu.

3.1. Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử Việt Nam

Công nghiệp hỗ trợ và các doanh nghiệp phụ trợ chậm phát triển, không đáp ứng được nhu cầu lắp ráp. Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử tại Việt Nam ít phát triển nên dẫn đến tỉ lệ nội địa hóa rất thấp, bình quân chỉ 20-35%, còn lại chủ yếu là bao bì đóng gói với các chi tiết nhựa, chi tiết kim loại…Ngành công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong nền công nghiệp quốc gia, song hiện nay ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn non trẻ.

3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành điện tử

Việc tuyển dụng đội ngũ lao động có chất lượng còn yếu kém trong khi con người là nhân tố phải được đào tạo song song với phát triển công nghệ. Đào tạo đầu ra còn chưa đáp ứng được nhu cầu việc làm, chưa xây dựng được đội ngũ nguồn nhân lực đủ mạnh thích ứng với yêu cầu đi trước đón đầu công nghệ. Việt Nam vẫn còn thiếu những lao động có tay nghề, những doanh nghiệp công nghiệp điện tử mạnh với sức cạnh tranh cao.

3.3. Thu hút đầu tư vào R D và công nghệ cao

Đầu tư nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới chưa thực sự có kết quả, thiếu tính chiến lược cho việc lựa chọn dòng sản phẩm và công nghệ từ các nhà đầu tư nước ngoài. Dù đã kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài với những chính sách ưu đãi cần thiết nhưng doanh nghiệp quên mất bài toán chiến lược về sự lựa chọn dòng sản phẩm và công nghệ phù hợp trong từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và xu hướng phát triển ngành công nghiệp điện tử trong khu vực và thế giới.

IV. Chính Sách Hỗ Trợ Phát Triển Ngành Điện Tử Việt Nam

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ngành điện tử. Các chính sách hỗ trợ ngành điện tử cần tập trung vào việc khuyến khích đầu tư vào R&D, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời, cần có chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích hợp tác giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, trường đại học.

4.1. Khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu và phát triển R D

Để tăng cường khả năng nghiên cứu và phát triển thì chúng ta cần thực hiện những giải pháp sau: Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào R&D, hỗ trợ tài chính cho các dự án nghiên cứu, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ.

4.2. Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất

Cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời, cần có chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích hợp tác giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, trường đại học.

4.3. Tạo điều kiện tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Hiệu quả của hội nhập quốc tế của Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh kim ngạch xuất khẩu hay nhập khẩu, mà quan trọng hơn là Việt Nam có thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay, Việt Nam vẫn đang ở “vị trí đáy” của chuỗi giá trị toàn cầu, do chỉ thực hiện được những khâu mang lại giá trị gia tăng thấp nhất.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Ngành Điện Tử

Nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới, giải pháp tiên tiến vào sản xuất là yếu tố then chốt để phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam. Các doanh nghiệp cần chủ động tiếp cận, học hỏi và ứng dụng các công nghệ mới như tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet of Things (IoT) vào quy trình sản xuất, quản lý và kinh doanh. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác với các đối tác quốc tế để tiếp cận các công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý.

5.1. Ứng dụng tự động hóa trong sản xuất điện tử

Tự động hóa giúp nâng cao năng suất, giảm chi phí và cải thiện chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp cần đầu tư vào các hệ thống tự động hóa, robot và các thiết bị thông minh để tối ưu hóa quy trình sản xuất.

5.2. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI và IoT trong quản lý

AI và IoT giúp thu thập, phân tích dữ liệu và đưa ra các quyết định thông minh, giúp doanh nghiệp quản lý hiệu quả hơn, dự đoán nhu cầu thị trường và tối ưu hóa chuỗi cung ứng.

5.3. Hợp tác quốc tế để tiếp cận công nghệ tiên tiến

Tăng cường hợp tác với các đối tác quốc tế để tiếp cận các công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý. Tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế để tìm kiếm cơ hội hợp tác và học hỏi kinh nghiệm.

VI. Định Hướng Phát Triển Ngành Điện Tử Việt Nam Đến 2030

Đến năm 2030, ngành điện tử Việt Nam cần trở thành một ngành công nghiệp hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Mục tiêu là phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan.

6.1. Phát triển ngành điện tử theo hướng bền vững

Cần chú trọng đến việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tái chế các sản phẩm điện tử đã qua sử dụng.

6.2. Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm điện tử

Tập trung vào các khâu có giá trị gia tăng cao như R&D, thiết kế sản phẩm và marketing. Phát triển các sản phẩm điện tử mang thương hiệu Việt Nam.

6.3. Đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội

Ngành điện tử cần tạo ra nhiều việc làm, đóng góp vào ngân sách nhà nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

07/06/2025
Chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của hàng điện tử việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị toàn cầu, và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử của một số quốc gia Chương 2: Thực trạng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử của Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của hàng điện tử Việt Nam 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU HÀNG ĐIỆN TỬ, VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 1. Các khái niệm về chuỗi giá trị toàn cầu Micheal Porter đã mô tả và phổ cập lần đầu tiên vào năm 1985 trong một cuốn sách về phân tích lợi thế cạnh tranh của ông về “chuỗi giá trị”, hay còn được biết đến là “chuỗi giá trị phân tích”, là một khái niệm từ quản lý kinh doanh: “Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động của một công ty hoạt động trong một ngành cụ thể. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản xuất thu được một số giá trị nào đó.

Chuỗi các hoạt động mang lại sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của các hoạt động cộng lại". B (1985), căn bản thì: “chuỗi giá trị toàn cầu là một tiến trình mà trong đó công nghệ, các nguồn nguyên liệu và lao động được kết hợp với nhau. Chuỗi giá trị toàn cầu được xác định khi các công đoạn sản xuất, lắp ráp, marketing và phân phối đối với thành phẩm không chỉ có một quốc gia tham dự”. Kaplinsky và Morri (2001) đã đưa ra khái niệm: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng”.

Một chuỗi giá trị sẽ tồn tại khi tất cả các mắt xích trong chuỗi hoạt động để tạo ra giá trị tối đa cho chuỗi. 5 Tóm lại, trước hết theo Micheal Porter, ta có thể hiểu định nghĩa về chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp là: “Một chuỗi giá trị sẽ bao gồm một loạt các hoạt động được thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Trong đó mọi hoạt động từ: thiết kế, quá trình thêm nguyên liệu đầu vào, sản xuất, phân phối thành phẩm, marketing và bán hàng, thực hiện các dịch vụ sau bán hàng đã tạo thành một chuỗi liên kết người sản xuất với người tiêu dùng. Bên cạnh đó, mỗi giai đoạn lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng”.

Ví dụ, như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng cho khách hàng thông qua việc điền số điện thoại vào các sản phẩm của mình để khách hàng có thể sử dụng để khiếu nại, đòi bồi thường, hỏi thông tin hoặc là đóng góp ý kiến đối với công ty cũng làm tăng giá trị chung của sản phẩm. Hãng Samsung cũng đã in số điện thoại (miễn phí cuộc gọi đến) trên các hộp điện thoại mà họ bán ra, vì vậy mỗi khi khách hàng có khiếu nại Samsung sẽ chuyển nội dung hộp thư thoại tới người quản lý cửa hàng, nhân viên cửa hàng này bắt buộc phải gọi lại cho khách hàng trong vòng 48h và giải quyết thỏa đáng cho khách hàng. Hay nói cách khác, một khách hàng sẽ có thể sẵn sàng trả giá cao hơn đối với một sản phẩm có dịch vụ chăm sóc tốt hơn. Như vậy nếu các công ty đầu tư tốt vào hệ thống chăm sóc sau bán hàng và làm hài lòng khách hàng hơn thì sẽ làm tăng giá trị sản phẩm.

Trong thực tế thì các chuỗi giá trị thường phức tạp hơn nhiều. B (1985) hay Kaplinsky và Morri (2001): “Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ) để biến một nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,…”. Theo nghĩa rộng này thì chúng ta sẽ không xét đến những hoạt động chỉ do một doanh nghiệp tiến hành, mà cần xét cả các mối liên kết ngược xuôi, 6 cho đến khi nguyên liệu đầu vào được sản xuất và kết nối được với người tiêu dùng cuối cùng. Mở rộng ra hơn nữa chính là chuỗi giá trị toàn cầu, khi đó các hoạt động của chuỗi có thể được thực hiện bởi nhiều doanh nghiệp và được diễn ra trên phạm vi toàn thế giới.

Giá cước vận tải giảm, tự do hoá thương mại và đầu tư, sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông khiến các công ty có thể dễ dàng thành lập các chi nhánh và bộ phận sản xuất, kinh doanh để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn ở khắp nơi trên thế giới. Những chức năng khác nhau có thể được chuyển đến những nơi khác nhau nhằm đạt hiệu quả hơn, ví dụ, thiết kế ở Bắc Mỹ và châu Âu, còn sản xuất, chế tạo tại Trung Quốc, dịch vụ sau bán hàng ở Ấn Độ. Đó chính là cơ sở để hình thành nên các chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu. Vậy, chuỗi giá trị toàn cầu có thể được hiểu là một chuỗi những khâu cần thiết để một sản phẩm hay dịch vụ từ khi chỉ là ý tưởng, thông qua các quá trình sản xuất khác nhau cho tới khi thành sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng, sau đó bị bỏ đi khi đã hết giá trị sử dụng.

Đặc điểm chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử Ngành điện tử thế giới ra đời và phát triển gắn liền với sáng kiến vĩ đại về chất bán dẫn (semi conductor). Các sản phẩm từ điện tử công nghiệp đến gia dụng đều bắt nguồn từ chất này có thể kể đến như: Các thiết bị giải trí gia đình; các loại máy quay phim, máy vi tính, điện thoại di động; cơ sở hạ tầng internet; trang thiết bị y tế; ô tô và các thiết bị điện tử trong ô tô… Ngày nay không một ngành công nghiệp nào không liên quan đến điện tử. Linh kiện chủ đạo trong các thiết bị điện tử là chất bán dẫn đã nổi lên với tầm ảnh hưởng cực lớn kể từ bốn thập kỷ qua của nền kinh tế thế giới và có tầm ảnh hưởng ở rất nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Không thể phủ nhận rằng công nghệ này chính là yếu tố căn bản của thời đại kỹ thuật số… 7 Ngành công nghiệp bán dẫn là ngành đầu tiên được mang danh "Nhà máy toàn cầu" vì sản phẩm của nó đã sớm được lắp ráp ở nước ngoài.

Chính ngành công nghiệp bán dẫn đã tạo nên quy mô sản xuất toàn cầu bao gồm các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất. Thông thường, giai đoạn thiết kế, nghiên cứu phát triển và những giai đoạn sản xuất phức tạp khác vẫn được thực hiện ở những nước phát triển nơi có lao động chất lượng cao và cơ sở hạ tầng cần thiết phục vụ cho việc sản xuất hàng điện tử. Các nước đang phát triển sẽ là nơi thực hiện công đoạn lắp ráp từ đầu vào cho đến khi ghép thành sản phẩm cuối cùng. Có rất nhiều chuỗi giá trị khác nhau như chuỗi giá trị ngành dệt may, chuỗi giá trị ngành thép, chuỗi giá trị ngành nhựa, chuỗi giá trị ngành dược,… và cả chuỗi giá trị ngành điện tử.

Điểm chung của các chuỗi giá trị này đều là nhiều hãng có thể tham gia vào các khâu trong chuỗi và tạo ra các giá trị gia tăng khác nhau. Tuy nhiên, đối với chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử, điểm khác biệt là do đặc thù hàng điện tử cần dịch vụ bảo hành sau bán hàng nên chuỗi có một khâu quan trọng cuối cùng là khâu dịch vụ khách hàng. Chuỗi giá trị có vai trò vô cùng quan trọng đối với hàng điện tử. Nhờ có chuỗi giá tri ̣ mà ngành công nghiệp điện tử được chuyên môn hóa cao, giảm thiểu được chi phí sản xuất, tận dụng tố i đa đươ ̣c lơ ̣i thế ca ̣nh tranh của các quố c gia.

Nhờ có chuỗi giá tri ̣mà có thể sản xuấ t ra các sản phẩ m điê ̣n tử giá rẻ nhưng lại có chất lươ ̣ng vượt trội. Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu hàng điện tử 1. Chuỗi giá trị toàn cầu do người sản xuất chi phối Đối với chuỗi giá trị toàn cầu hướng theo nhà sản xuất thì doanh nghiệp sản xuất lớn đóng vai trò chính trong hệ thống sản xuất, bao gồm cả liên kết ngược chiều và xuôi chiều, vốn chi phối là vốn công nghiệp. Đây 8 chính là các ngành thâm dụng vốn và công nghệ cao như ô tô, máy bay, máy vi tính, chất bán dẫn, chế tạo máy,… Các công ty đa quốc gia sẽ thu về lợi nhuận chính và lợi nhuận nhiều hay ít còn phụ thuộc vào qui mô, số lượng và sự vượt trội về công nghệ của mỗi công ty.

Đối với mặt hàng điện tử nói riêng thì các ngành đặc thù là các thiết bị điện tử trên ô tô, máy bay, trong máy vi tính, chất bán dẫn… 1. Chuỗi giá trị toàn cầu do người mua chi phối Chuỗi giá trị toàn cầu hướng theo người mua bao gồm: Các nhà bán lẻ lớn, các nhà marketing, các nhà sản xuất có thương hiệu mạnh và có vai trò then chốt trong việc hình thành mạng lưới sản xuất tập trung ở các nước xuất khẩu khác nhau trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển có vốn chi phối là vốn thương mại. Mô hình này là đặc trưng chung của các ngành thâm dụng lao động, sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, da giầy, đồ chơi,… Trong hệ thống này các nhà thầu của thế giới thứ ba chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm cuối cùng cho người tiêu dùng nước ngoài. Các nhà bán lẻ lớn hay các nhà bán buôn đặt hàng các sản phẩm với các đặc tính rõ ràng.

Với ngành công nghiệp điện tử thì mặt hàng đặc thù là máy vi tính, điện thoại di động,… Các hãng công nghệ lớn như Dell, Apple,… đã bỏ đi mảng sản xuất của mình, hoàn toàn tập trung vào khâu nghiên cứu, thiết kế, marketing và phân phối. Họ thuê các hãng sản xuất khác gọi là OEM (Original Equipment Manufacturer) nhằm sản xuất sản phẩm theo thiết kế mà họ đưa ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử Việt Nam tập trung vào việc cải thiện vị thế của ngành điện tử Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nó nêu bật những thách thức và cơ hội mà ngành này đang đối mặt, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà Việt Nam có thể tận dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo để nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất điện tử.

Để mở rộng hiểu biết về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Thực trạng tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ. Đây là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá thêm và nâng cao kiến thức của mình về ngành điện tử Việt Nam.