CHƯƠNG 1 Các cơ quan tư pháp của một quốc gia khi giải quyết những vụ việc có yếu tố nước ngoài thường cân sự hỗ trợ của co quan có thâm quyển của nước ngoài có liên quan thực hiện một số hoạt động giúp các cơ quan tư pháp này hoàn thành nhanh chóng các vụ việc trong nước cua mình. Qua đó, bảo vệ hữu hiệu quyền lợi ích hợp pháp của nha nước, tổ chức, cá nhân. Khi các quan hệ giữa các quốc gia được thiết lập, các quan hệ dân sự, kinh tế cảng có cơ hội phát triển mạnh mẽ, do đó, nhu cầu tương trợ tư pháp không ngừng tăng lên. Dé thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp, các quốc gia sẽ thé hiện ý chí, mong muốn của mình thông qua ủy thác tư pháp.
Để phục vụ chính yêu cầu của hoạt động tư pháp của nước mình, các quốc gia sẽ tham gia ký kết các điều ước quốc tế thiết lập nên cơ sở pháp lý vững chắc thực hiện ủy thác tư pháp cho nhau. Theo quá trình phát triên của ủy thác tư pháp, pháp luật trong lĩnh vực này cũng dần hoàn thiện và theo những chuân mực chung của thé giới. Khoản 1 Điều 6 Luật Tương trợ tư pháp 2007, "ủy thác tư pháp là yêu cầu bang văn ban của cơ quan có thâm quyển của Việt Nam hoặc cơ quan có thâm quyển của nước ngoal về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp. Theo định nghĩa này của pháp luật Việt Nam, ủy thác tư pháp là yêu cầu mà một quốc gia nhận được từ một quốc gia khác trên cơ sở các điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại, thông qua cơ quan nhả nước có thâm quyên của minh, thực hiện những hành vi tố tụng tư pháp trong lãnh thô quốc gia mình nhằm thực thi pháp luật, bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tô chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục nhất định tùy thuộc vào pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành Viên.
20 Với ý nghĩa và sự cần thiết của ủy thác tư pháp như trên, Việt Nam đã gia nhập hai Công ước trong khuôn khổ HCCH là Công ước tông đạt và Công ước thu thập chứng cứ, đồng thời ký kết được 18 hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự tạo ra hệ thống quan hệ tương trợ tư pháp với hàng chục quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có những quốc gia có quan hệ mật thiết với Việt Nam và phát sinh số lượng ủy thác tư pháp rất lớn như Trung Quốc, lãnh thé Đài Loan, Hoa Kỳ. Pháp luật trong nước đã hình thành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đưa hoạt động ủy thác tư pháp vào trật tự nhất định, hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, của khoa học pháp lý quốc tế và nhu cầu ủy thác tư pháp đã vượt xa thời điểm xây dựng Luật Tương trợ tư pháp 2007. Do vậy, thực tiễn thực hiện đã phát sinh nhiều khó khăn vướng mắc sẽ được trình bảy tại Chương II sau đây.
21 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VE ỦY THÁC TƯ PHÁP TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về ủy thác tư pháp trong lĩnh vực dan sự 2. Căn cứ thực hiện iy thác twpháp trong lĩnh vực dân sw Pháp luật Việt Nam về ủy thác tư pháp quy định rõ rang va thống nhất với các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự mà Việt Nam là thành viên. Luật Tương trợ tư pháp 2007 đã nội luật hóa và chi tiết hóa đầy đủ các yêu cầu đối với ủy thác tư pháp trong Công ước tống đạt và các hiệp định song phương.
Mặc dù Việt Nam gia nhập Công ước thu thập chứng cứ sau thời điểm ban hành Luật Tương trợ tư pháp 2007 nhưng Luật nay vẫn thống nhất với các cam kết của Việt Nam tại Công ước. Theo đó, ủy thác tư pháp trong lĩnh vực dân sự được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (18 Hiệp định song phương va 02 Công ước trong khuôn khô HCCH) và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong nước. Nội dung cơ bản của 18 Hiệp định song phương tập trung một số vấn để như sau: Phạm vi tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự, Quy ước cơ quan đầu mối của các bên, phương thức liên lạc, chi phí thực hiện ủy thác tư pháp, và các quy định khác liên quan đến ngôn ngữ, điều kiện từ chối hoặc hoãn thực hiện, trình tự thủ tục cụ thê. Về cơ bản, hoạt động tương trợ tư pháp không có quá nhiều thay đổi trong một thời gian dài như các hoạt động quan hệ quốc tế khác, do đó, các quy định cơ bản của hoạt động tương trợ tư pháp vẫn phù hợp sau một thời gian dải thực hiện, đặc biệt là yêu cau lập ủy thác tư pháp.
Trong quá trình đàm phán các điều ước quốc tế cũng như hoàn thiện pháp luật trong nước về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự đều đòi hỏi sự cân trọng trong công tác rà soát, so 22 sánh đối chiếu cả hai chiều đáp ứng yêu cầu thống nhất, khả thi giữa pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước. Số lượng 18 nước ký kết Hiệp định song phương với Việt Nam là con số rất nhỏ so với số lượng các nước Việt Nam có quan hệ tương trợ tư pháp. Do vậy, tham gia ký kết các điều ước đa phương là giải pháp vô cùng hữu hiệu. Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của 02 Công ước trong khuôn khổ HCCH về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự là Công ước tống đạt và Công ước thu thập chứng cứ.
Hai Công ước nay cũng là những công ước thanh công nhất của HCCH cho đến thời điểm hiện tại. Tính đến ngày 23/6/2023, Công ước tống đạt có 82 thành viên.!? Công ước thu thập chứng cứ có 66 thành viên.!! Trong đó, một số nước có số lượng yêu cầu ủy thác tư pháp lớn với Việt Nam như Hoa Kỳ, Úc là thành viên của cả hai Công ước nảy. So với Hiệp định song phương, điều ước đa phương là sự chuân hóa mực thước trong hoạt động tương trợ tư pháp giữa các nước, đơn giản hóa thủ tục, công khai và dé dang truy cập thông tin các yêu cầu của các nước thành viên. Tuy nhiên, so với điều ước đa phương, các hiệp định song phương là sự thỏa thuận những ưu đãi mà hai nước danh cho nhau.
Vi dụ, Công ước tống đạt quy định các nước thực hiện tống đạt miễn phí cho nhau nếu được thực hiện bởi cơ quan nhà nước. Có nghĩa là nếu ủy thác tư pháp do tổ chức tư nhân của nước đó thực hiện thì có quyên thu các khoản phí. (Việt Nam thực hiện ủy thác tư pháp miễn phí cho các yêu cầu từ Hoa Ky vi do Bộ Tư pháp, hệ thống toa án nhân dân va thi hành án dân sự thực hiện. Hoa Ky thực hiện ủy thác tư pháp của Việt Nam thông qua Công ty ABC legal và thu phí với mức 95 đô la Mỹ).!? Còn đối với 18 Hiệp định 19 Website chính thức của HCCH, https://www.net/en/instruments/conventions/status-table/?cid=17, truy cập lúc 19h45 ngày 17/3/2024 1! Website chính thức của HCCH, https://www.net/en/instruments/conventions/status-table/?cid=82, truy cập lúc 19h45 ngày 17/3/2024 12 Website chính thức của HCCH, https://www.net/en/states/authorities/details3/?aid=279, truy cập lúc 19h45 ngày 17/3/2024 23 song phương hiện nay của Việt Nam và nước ngoài thì miễn phí cho nhau không phân biệt là cơ quan có thâm quyên hay tô chức tư nhân được ủy quyên.
Trong trường hợp không có điều ước quốc tế, theo quy định tại Điều 4 và Điều 66 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định cho phép thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại và đo Bộ Ngoại giao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xem xét quyết định áp dung nguyên tắc nay. Trong các điều ước quốc tế có nhiều nội dung dẫn chiếu tới quy định trong nước, ví dụ như các phương thức khác phù hợp với pháp luật nước nhận ủy thác (mục ¢ về các phương thức tống đạt tại mẫu 2B ban hành kèm theo Thông tu 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC hướng dẫn chi tiết mẫu yêu cầu ủy thác tư pháp của Công ước tống đạt), về những nội dung này, hệ thống pháp luật Việt Nam quy định đây đủ và chỉ tiết. Chủ thể tham gia hoạt động ủy thác twpháp trong lĩnh vực dân sự Mặc dù không có quy định riêng chủ thê của úy thác tư pháp trong lĩnh vực dân sự nhưng các quy trình thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp chỉ rõ các chủ thé. Khoản 2 Điều 6 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định: "Tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thâm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thâm quyền của nước ngoai thông qua ủy thác tư pháp".
Như vậy, chủ thé của ủy thác tư pháp không thé là tổ chức, cá nhân bat kỳ mà 1a co quan có thâm quyển của một quốc gia. Những cơ quan có thâm quyển nay được quy định theo pháp luật trong nước của mỗi nước hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Thông thường, co quan có thâm quyển của Việt Nam trong điều ước quốc tế phải phủ hợp với pháp luật trong nước. Ví dụ: Cơ quan trung ương của Việt Nam trong các hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự mà Việt Nam là thành viên là Bộ Tư pháp.
Cơ quan này được giao trách nhiệm "Tiếp nhận, chuyên giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các uy thác tư pháp về dân sự" tại khoản 2 Điều 62 Luật Tương trợ tư pháp 2007.