Chương 1: Lý luận về người khuyết tật và pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật. Chương 2: Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiến thực hiện tại Thành phố Hà Nội. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật. LÝ LUẬN VE PHAP LUAT TRỢ GIÚP XA HOI DOI VỚI NGƯỜI KHUYET TAT Ở VIET NAM 1.
Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 1. Khái niệm trợ giúp xã hội Trợ giúp xã hội là một yêu cầu khách quan trong đời sống xã hội tại nhiều nước trên thế giới và đã xuất hiện từ rất lâu. Mọi người đều có nguy cơ phải đối mặt với rủi ro tự nhiên (bão, lũ lụt, hạn hán.), rủi ro môi trường (ô nhiễm), rủi ro sức khỏe (ốm đau, bệnh tật), rủi ro vòng đời (tudi gia), rủi ro kinh tế (tai nạn giao thông, tai nạn lao động, nghèo đói.), rủi ro xã hội (chiến tranh, thay đôi thê chế). Những rủi ro nay ảnh hưởng tới cuộc sống của một bộ phận dân cư, cuộc sống của họ bị đe dọa, hạn chế hoặc bị đây ra bên lề của sự phát triển và phải nhờ cần đến sự giúp đỡ của cộng đồng, của xã hội.
Nếu không có sự trợ giúp họ có thể bị rơi vào sự ban cùng và nghèo đói. Điều 25 của Tuyên ngôn về Nhân quyền (1948) nêu rõ rằng: “Tat cả mọi người đều cỏ quyền được hưởng một mirc sống đây đủ về sức khỏe và phúc lợi cho ban thân người đó và gia đình, bao gồm hương thực, quân áo, nhà ở, chăm sóc ý tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, có quyên được hưởng chế độ an sinh trong trường hợp không có việc làm, dau ốm, tàn tat, goa bua, tuổi già hoặc thiếu sinh kế trong những hoàn cảnh vượt ngoài tâm kiểm soát của minh” ? Người khuyết tật luôn chiếm một tỉ lệ nhất định trong dân số mỗi quốc gia, ở Việt Nam theo báo cáo của Bộ Lao động — Thương binh va xã hội (năm 2015), ước tính cả nước có khoảng 7,2 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số cả nước”. Xem xét về thê trạng và cơ hội tạo thu nhập đảm bảo cuộc sống cho thấy đương nhiên với những khuyết tật của mình, nhóm đối tượng này trở thành yếu thế so với những người bình thường. Họ cần hỗ trợ, giúp đỡ dé đảm bảo cuộc sống.
Với trách nhiệm dam bảo và chăm lo đời sống cho các thành viên xã hội, Nhà nước xác định trách nhiệm của mình đối với cuộc sống của người khuyết tật, trước hết và cơ bản là khoản trợ cấp hỗ trợ nuôi dưỡng trong chế độ bảo trợ xã hội. Trợ giúp xã hội là hình thức an sinh xã hội ? Liên hợp quốc (1948), Tuyên ngôn về nhân quyền. l > Nguyễn Trọng Đàm (2016), Thực trạng thực hiện chỉnh sách trợ giúp xã hội và giải pháp đôi mới giai đoạn tới, http:/www. 10 mang tính xã hội cao nhất vì đây là hình thức không đòi hỏi người hưởng trợ cấp phải nộp bat cứ một khoản đóng góp nao.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, trợ giúp xã hội là “sự giúp đỡ bằng tiên mặt hoặc điều kiện sinh sống thích hợp đề đối tượng được giúp đỡ và có thé phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống của mình hoặc gia đình, sớm hòa nhập với cộng đồng" `. Ở Việt nam, khái niệm trợ giúp xã hội gần với bảo trợ xã hội, là một trong ba bộ phân cầu thành cơ bản của hệ thống an sinh xã hội. Trong một số tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ bảo trợ xã hội hay trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội đều dé cập đến nội hàm khái niệm có phạm vi như nhau”. Theo đó, trợ giúp xã hội là sự đảm bảo và giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và cộng đồng về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế, không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiêu của bản thân và gia đình.
Chính sách trợ giúp xã hội không phải cố định, mà thường xuyên thay đôi cho phù hợp với điều kiện cụ thé về phát triển kinh tế, thu nhập và mức sống của xã hội. Như vậy, trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng xã hội cho các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế, không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiêu của bản thân và gia đình. Trợ giúp xã hội có thé bằng tiền, cũng có thé là các điều kiện và phương tiện thích hợp dé đối tượng có thé phát huy những khả năng tự lo liệu của họ nhằm sớm hòa nhập trở lại với cộng đồng. Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đỗi với người khuyết tật Ở Việt Nam, người khuyết tật được Đảng, Nhà nước quan tâm từ rất sớm.
Tuy vậy, thuật ngữ người khuyết tật mới được sử dụng gần đây với sự ra đời của Luật người khuyết tật năm 2010. Theo đó người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm * Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, tr.ó41 Nxb Từ điện bách khoa Hà Nội ¬ - Ÿ Nguyễn Hiền Phương (2010), Pháp luật an sinh xã hội — Những van dé lí luận và thực tiễn, tr. 11 khuyết một hoặc nhiều bộ phân cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Dé có khái niệm chung nhất về người khuyết tật nhằm thuận lợi cho việc tìm hiểu nghiên cứu tác giả xin trích dẫn khái niệm trong Giáo trình Luật về người khuyết tật của trường Đại học Luật Hà Nội vào, đây là khái niệm mà tác giả thấy phù hợp, ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa bao quát hết được những đặc điểm cơ bản của người khuyết tật.
Theo đó “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác” ”. Xuất phát từ khái niệm trợ giúp xã hội nói chung, trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được hiểu là tổng hợp các cơ chế, chính sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ cho người khuyết tật, trước hết và chủ yếu là những khoản trợ cấp, hỗ trợ và các chi phí khác nhằm giúp cho người khuyết tật ôn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Trên quan điểm tiến bộ, trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được tiếp cận từ góc độ nhân quyên với trách nhiệm của Nhà nước chứ không chỉ dừng lại ở mục đích nhân đạo, ban ơn, chiếu cố tới những thân phận khiếm khuyết về sức khỏe. Các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho cuộc sống của người khuyết tật được thực hiện như một sự phân phối lại lợi ích xã hội theo hướng công bằng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia trong tương quan phát triển kinh tế và xã hội.
Còn pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống. Theo đó, pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành ° Quốc hội (2010), Luật người khuyết tật, Ha Nội. 7 Trường Dai học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật về người khuyết tật, Nxb Công An nhân dân, Hà Nội. 12 điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật.
Các nguyên tắc pháp lý của trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật Nguyên tắc pháp lý của trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật là những nguyên ly, tư tưởng chỉ đạo quán triệt và xuyên suốt hệ thống các quy phạm pháp luật về trợ giúp xã hội. Các nguyên tắc pháp lý về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật như sau: Một là, nguyên tắc trợ giúp xã hội bình đẳng, không có sự phân biệt theo tiêu chí nào. Nguyên tắc này được ghi nhận trong Điều 34 Hiến Pháp năm 2013 và cụ thể hóa trong các văn bản Luật, dưới luật. Nội dung nguyên tắc này thể hiện ở việc các thành viên xã hội nếu bị khuyết tật đều có quyền hưởng trợ giúp xã hội mà không phân biệt về địa vi, kinh tế, tôn giáo, thành phan xã hội.
Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc ai là người khuyết tật cũng được hưởng trợ giúp xã hội và không phải ai được hưởng trợ giúp xã hội thì mức trợ giúp cũng giống nhau mà còn căn cứ vào mức độ khuyết tật cũng như hoàn cảnh sống trên thực tế của người khuyết tật. Điều này được thể hiện thông qua việc phân loại các đối tượng người khuyết tật dé quy định các chế độ hưởng, mức hưởng cũng như điều kiện hưởng cu thé đối với từng loại đối tượng. Nguyên tắc này thể hiện sự công bằng xã hội, vừa thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của chế độ trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật. Hai là, nguyên tắc mức trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật không phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống của họ mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ khuyết tật và nhu cầu thực tế của đối tượng.
Với mục đích không nhằm bù dap hay thay thé thu nhập, cũng không nhằm làm đảm bảo cuộc sống với những yêu cầu định trước mà chỉ giúp cho đối tượng thoát khỏi tỉnh trạng cuộc sống thường nhật bị đe dọa, tạo cơ hội cho họ vươn lên khắc phục rủi ro, hòa nhập cộng đồng. Do vậy, các khoản trợ giúp xã hội cho người khuyết tật không gắn với bất cứ yêu cầu gì về nghĩa vụ tài chính cho việc thụ hưởng. Không phải trước khi bị khuyết tật đối tượng nào có thu nhập cao, mức sống cao hơn thì hưởng trợ cấp cao hơn và 13 ngược lại. Tiêu chí quan trong dé xác định mức trợ cấp cho người khuyết tật chính là mức độ rủi ro khuyết tật và hoàn cảnh sống thực tế của người khuyết tật.