CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại 1.1 Vốn của ngân hàng thương mại Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do bản thân NHTM tạo lập và huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vốn kinh doanh của NHTM hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và các nguồn vốn khác. (Tô Ngọc Hưng 2014, tr.2 Phân loại vốn của ngân hàng thương mại Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến, (2014, tr.99) nguồn vốn của ngân hàng thương mại được phân loại căn cứ vào nguồn hình thành vốn, gồm: - Nguồn vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập và thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu thường chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng.
Tuy vốn chủ sở hữu không chiếm tỷ trọng lớn, nhưng nó lại có vai trò vô cùng quan trọng và là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Vốn chủ sở hữu thường có tính chất thường xuyên và ổn định. Có vai trò quan trọng trong việc duy trì các hoạt động hàng ngày của ngân hàng và cũng là nền tảng đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được phát triển lâu dài, thể hiện qua việc vốn chủ sở hữu là phương tiện giúp ngân hàng chống lại rủi ro phá sản đồng thời cung cấp về mặt tài chính cho các hoạt động sử dụng dịch vụ mới cũng như các hoạt động phát triển khác của ngân hàng. + Vốn điều lệ Vốn điều lệ là số vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của các NHTM.
Ngoài ra, NHTM có mức vốn pháp định là mức vốn tối thiểu theo quy định pháp luật để các NHTM đi vào hoạt động. Do yêu cầu an toàn vốn và nâng cao năng lực tài chính, vốn điều lệ thông thường lớn hơn mức vốn pháp định. + Các quỹ dự trữ 15 Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: sau khi quyết toán năm tài chính, nếu ngân hàng kinh doanh có lãi thì phải trích 5% lợi nhuận ròng để đưa vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ. Quỹ dự phòng tài chính: là khoản dự phòng tổn thất tín dụng phải được xem như một bộ phận của vốn bởi nó bù đắp sự thua lỗ.
Tỷ lệ trích bằng 10% lãi ròng hàng năm của ngân hàng, số dư của quỹ không được vượt quá 25% vốn điều lệ của ngân hàng. Các quỹ khác: quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng,… các quỹ này cũng được trích lập và sử dụng theo quy định của pháp luật. + Các nguồn vốn khác: bao gồm là các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, lợi nhuận được để lại chưa phân bổ cho các quỹ. - Nguồn vốn vay Trong quá trình kinh doanh của các tổ chức tín dụng có tình trạng tạm thời thừa và thiếu vốn, các ngân hàng sử dụng quan hệ vãng lai, vay và cho vay vốn để tận dụng cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo khả năng thanh toán, NHTM có thể vay vốn ở NHTM khác hoặc vay vốn ở NHNN.
+ Vay vốn ở tổ chức tín dụng Đó là khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Các ngân hàng thường xuyên xây dựng các mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay ngân hàng trung ương. + Vay vốn ở ngân hàng nhà nước Khi ngân hàng xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khả năng thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là NHNN. Ngân hàng trung ương cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu.
Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do NHNN chỉ cho NHTM một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm trong định hướng cho chính sách tài chính quốc gia. - Nguồn vốn huy động 16 Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà các ngân hàng huy động được trên thị trường thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay, và một số nguồn khác. Nguồn vốn huy động có ý nghĩa quyết định tới khả năng hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại. + Vốn tiền gửi Tiền gửi thanh toán: là loại tiền mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào.
Đối với doanh nghiệp hoặc cá nhân: đây là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhờ ngân hàng giữ hộ hoặc thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp hoặc cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các khoản thu của doanh nghiệp, cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung đây là một khoản huy động có lãi suất thấp, có khi bằng không, thay vào đó chủ tài khoản được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp.
Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thời gian nhất định từ một vài tháng đến một vài năm(3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm,…). Tiền gửi có kỳ hạn thường có lãi suất cao, thời hạn dài, và là nguồn tiền tương đối tương đối. Thông thường tiền gửi có kỳ hạn không được sử dụng để thanh toán. Tiền gửi tiết kiệm: là tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi.
Khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và kiếm lời nhờ hưởng các khoản lãi suất tùy theo đó là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn hay không có kỳ hạn. Tiền gửi khác: ngoài các loại tiền gửi nêu trên, tại các NHTM còn có một số khoản tiền gửi khác như: tiền gửi các TCTD, tiền gửi của Kho bạc nhà nước, tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội,… + Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá Giấy tờ có giá là chứng nhận của TCTD phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa TCTD và người mua. Ngân hàng huy động vốn bằng cách phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu ngân hàng,. để huy động vốn cho thị trường.
Đối tượng mua kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi là các tổ chức, 17 cá nhân trong nền kinh tế, ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu nhập tạm thời chưa sử dụng đến để mua, trên thực tế đây là một kênh đầu tư của người có vốn trong xã hội khi họ không có khả năng và cơ hội đầu tư trực tiếp. - Các nguồn vốn khác Ngoài các nguồn vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay ủy thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; nguồn vốn trong thanh toán như khoản tiền gửi của các ngân hàng khác nhờ thanh toán hộ, nguồn tiền gửi ký quỹ của khách hàng để đảm bảo quá trình thanh toán thư tín dụng, bảo lãnh.; hoặc các loại vốn khác như tiền đặt cọc của khách hàng, nợ thuế, nợ lương. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.3 Vai trò của vốn trong ngân hàng thương mại Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành NHTM. Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được thì phải có: Công nghệ – Lao động – Tiền vốn trong đó vốn là nhân tố quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh.
Riêng đối với NHTN, vốn lại càng là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức hoạt độnh kinh doanh, ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nếu không có vốn. Như đã biết, đặc trưng của hoạt động ngân hàng: Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn).
Những ngân hàng trường vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh trong kinh doanh. Hơn nữa, vốn lớn là lợi thế đầu tiên trong việc chấp hành pháp luật trước hết là Luật ngân hàng, Luật các TCTD, tạo thế mạnh và thuận lợi trong kinh doanh tiền tệ. Chính vì thế, có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng, là khâu cốt lõi của ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là đủ vốn điều lệ theo luật định thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới 18 việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.
(Nguyễn Văn Tiến 2014, tr.92) - Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng: Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng. Ngân hàng có nhiều vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn so với ngân hàng ít vốn. Có được nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, có điều kiện để hạ lãi suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng. Các ngân hàng lớn, nhiều vốn thường có rất nhiều các dịch vụ ngân hàng.
Phạm vi hoạt động kinh doanh của họ sẽ rộng hơn nhiều các ngân hàng nhỏ. Chính vì vậy càng khẳng định rõ tầm quan trọng của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường: Các ngân hàng lớn trên thế giới là các ngân hàng có uy tín, luôn được ca ngợi và nể trọng. Điều kiện đầu tiên để xây dựng được uy tín của ngân hàng chính là vốn của ngân hàng.
Có nhiều vốn, khả năng thanh toán của ngân hàng luôn được đảm bảo, các khách hàng luôn cảm thấy yên tâm khi giao thiệp với ngân hàng. Trong nên kinh tế bất ổn hiện nay, khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng đầu và để được như vậy thì các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn hơn.