Luận án tiến sĩ nghiên cứu tuyển chọn giống và xác định một số biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất lúa thuần chất lượng tại vùng đồng bằng tỉnh thanh hóa

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu nghiên cứu tuyển chọn giống và xác định một số biện pháp kỹ thuật cải thiện kết quả sản xuất lúa, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Trường Đại Học Hồng Đức

Chuyên ngành

Khoa Học Cây Trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Nông Nghiệp

2021

241
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

3. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Cây lúa (Oryza sativa L.) đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực toàn cầu. Tại Việt Nam, sản xuất lúa gạo là ngành chủ lực của nông nghiệp, với sản lượng xuất khẩu đạt 6,15 triệu tấn trong năm 2020. Tỉnh Thanh Hóa, nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Trung Bộ, là một trong những vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, năng suất lúa tại đây vẫn thấp hơn so với các tỉnh khác. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và thay đổi cơ cấu giống lúa là cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa. Tỉnh Thanh Hóa đã ban hành quyết định xây dựng vùng chuyên canh sản xuất lúa chất lượng cao, nhằm khai thác tiềm năng sản xuất lúa gạo. Nghiên cứu này nhằm tuyển chọn giống lúa thuần chất lượng và xác định biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp, góp phần phát triển bền vững ngành nông nghiệp tại địa phương.

II. Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu chung của nghiên cứu là xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa thuần chất lượng tại Thanh Hóa. Cụ thể, nghiên cứu sẽ đánh giá điều kiện khí hậu, đất đai và tình hình sản xuất lúa tại vùng đồng bằng tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời, nghiên cứu sẽ tuyển chọn giống lúa thuần có năng suất cao và chất lượng tốt, xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác như mật độ cấy, liều lượng bón đạm và phân hữu cơ vi sinh. Cuối cùng, xây dựng mô hình sản xuất cho giống lúa thuần chất lượng được tuyển chọn, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng lúa gạo, tăng thu nhập cho người dân.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu này không chỉ bổ sung dữ liệu khoa học về giống lúa thuần chất lượng cao mà còn khẳng định vai trò của phân hữu cơ vi sinh trong việc nâng cao năng suất và chất lượng lúa. Việc tuyển chọn giống lúa thuần chất lượng cao Japonica VAAS16 sẽ giúp tăng thu nhập cho người dân và phát triển nông nghiệp bền vững tại Thanh Hóa. Đề tài cũng góp phần vào việc thực hiện các chính sách của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam. Những biện pháp kỹ thuật được xác định trong nghiên cứu sẽ có giá trị thực tiễn cao, giúp nông dân áp dụng hiệu quả trong sản xuất.

IV. Quy trình sản xuất lúa

Quy trình sản xuất lúa thuần chất lượng tại Thanh Hóa bao gồm các bước từ chọn giống, chuẩn bị đất, gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch. Việc lựa chọn giống lúa phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai là rất quan trọng. Các biện pháp kỹ thuật như mật độ cấy, liều lượng phân bón và chăm sóc cây trồng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng lúa. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, từ đó tăng thu nhập cho nông dân. Quy trình này cần được thực hiện đồng bộ và liên tục để đạt được kết quả tốt nhất.

V. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy giống lúa thuần chất lượng VAAS16 có khả năng thích ứng tốt với điều kiện sản xuất tại Thanh Hóa. Năng suất lúa đạt được từ 60-65 tạ/ha, cao hơn so với các giống lúa khác. Các biện pháp kỹ thuật như tăng mật độ cấy và sử dụng phân hữu cơ vi sinh đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng lúa. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng mô hình sản xuất tổng hợp sẽ giúp nông dân tối ưu hóa quy trình sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế. Những kết quả này có thể được áp dụng rộng rãi trong sản xuất lúa tại các vùng khác của tỉnh Thanh Hóa.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tuyển chọn giống và xác định một số biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất lúa thuần chất lượng tại vùng đồng bằng tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Nguồn gốc phân loại của cây lúa Cây lúa thuộc ngành thực vật có hoa Angiospermae, nằm trong lớp một lá mầm Monocotyledones, thuộc bộ hoà thảo có hoa Graminales, họ hoà thảo Graminae và chi Oryza [Nguyễn Văn Hoan, 2006]. Chi Oryza gồm có các loài hàng niên và đa niên. là loài được phân bố rộng trên toàn thế giới, chiếm ưu thế trong sản xuất và tiêu thụ bởi có tiềm năng sản xuất cao hơn so với loài O.

Theo nghiên cứu của Chang năm 2005, lúa trồng Oryza sativa được tiến hoá từ cây lúa dại hằng năm Oryza nivara. Lúa trồng Oryza sativa tiếp tục tiến hoá theo ba nhóm: Indica thích hợp với khí hậu nhiệt đới, Japonica thích ứng với khí hậu lạnh và Javanica có đặc tính trung gian [Chang T. Nghiên cứu của Civáň P. và cộng sự (2019) cho rằng Oryza sativa có nguồn gốc từ cây lúa dại Oryza rufipogon.

Năm 2008, khi nghiên cứu di truyền tiến hoá của 201 giống lúa, bao gồm cả lúa trồng và lúa dại, Cheng và cộng sự đã chia loài lúa trồng Oryza sativa thành hai nhóm tương ứng với hai loài phụ là Indica và Japonica [Chen.S và cộng sự, 2008]. Trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài cây lúa Châu Á đã có nhiều sự thay đổi để thích ứng với các biến đổi của môi trường khác nhau. Dựa vào sự khác nhau về hình thái như thân, lá, hạt và thành phần cấu tạo hạt, đặc biệt là hàm lượng amyloza, amylopectin, khả năng chịu hạn, chịu lạnh …cây lúa châu Á được phân chia thành ba nhóm chính bao gồm Indica, Japonica (Sinica) và Javanica [Civáň P. và cộng sự, 2015].

Giống lúa Japonica có khả năng chịu lạnh, ngưỡng nhiệt độ thấp cho sinh trưởng là xung quanh 150C, thường được trồng ở vùng ôn đới; khả năng thâm canh cao, chống đổ tốt nên có tiềm năng năng suất cao, cơm dẻo, ít nở [Civáň P. và cộng sự, 2015]. Lúa Japonica thích nghi với điều kiện thâm canh, chịu thâm canh tốt, nên 5 luan an có khả năng cho năng suất cao. Các giống lúa Japonica có chất lượng gạo cao hơn các giống lúa Indica hoặc dạng hình trung gian khác do: Hàm lượng protein khá cao, hàm lượng amylose thấp (14 - 18%) và chứa amylopectin, nên khi nấu cơm, gạo của lúa Japonica thường mềm, dẻo và ẩm hơn [Hoàng Tuyết Minh và cộng sự, 2013].

Giống Indica: thường trồng ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, cơm khô; chịu thâm canh kém, dễ đổ ngã, chống chịu được nhiều loại sâu bệnh nhiệt đới. Giống Javanica: có tính chất trung gian giữa lúa Indica và Japonica. Đặc điểm: hạt to, thường có râu, vỏ trấu có lông dài, ít gié; cây cao, thân cây thẳng đứng, chịu hạn; có hàm lượng amylose cao [Chang T. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 1.

Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Lúa là một trong ba loại cây ngũ cốc quan trọng nhất trên thế giới, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu và đảm bảo an ninh lương thực trên toàn thế giới ở hiện tại và trong tương lai. Cây lúa được trồng ở tất cả 06 lục địa trên thế giới bao gồm: Châu Á, Châu Phi, Châu Úc, Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới từ năm 1990- 2019 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 1990 146,9 3,53 518,6 2000 154,0 3,89 598,7 2010 160,3 4,33 694,0 2011 161,2 4,46 719,1 2012 160,8 4,52 727,7 2013 163,0 4,49 731,8 2014 161,9 4,51 730,8 2015 160,2 4,57 731,9 2016 162,5 4,55 739,5 2017 164,9 4,56 751,7 2018 165,5 4,61 762,8 2019 162,1 4,67 755,5 6 luan an Nguồn: Faostat, 2020 - Về diện tích: Theo thống kê của FAO, diện tích gieo trồng lúa trên thế giới tại thời điểm năm 1990 là 146,9 triệu ha, năm 2000 là 154,0 triệu ha và đến năm 2010 là 160,3 triệu ha. Như vậy, sau 20 năm (1990 - 2010) diện tích trồng lúa đã tăng lên 13,4 triệu ha tương ứng 9,12%.

Tuy nhiên, ở giai đoạn 2010 - 2019 diện tích trồng lúa trên thế giới có xu hướng ổn định, với mức dao động không đáng kể (trên dưới 162,5 triệu ha) [Faostat, 2020]. Theo thống kê của FAO năm 2020 Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới. Trung Quốc là nước đứng thứ hai sau Ấn Độ về diện tích trồng lúa, chiếm 18,48% diện tích lúa toàn cầu [Faostat, 2020]. Diện tích trồng lúa của một số quốc gia trên thế giới, 2019 (Faostat, 2020) - Về năng suất: Nhìn chung, năng suất lúa toàn thế giới còn thấp nhưng có xu hướng tăng lên theo thời gian.

Cụ thể, vào năm 1990, năng suất lúa chỉ đạt trung bình 3,53 tấn/ha, đến năm 2000 giá trị này đã tăng lên 3,89 tấn/ha. Trong giai đoạn từ 2010 - 2019, năng suất lúa đạt bình quân là 4,53 tấn/ha, tăng 28,69% so với thời điểm 1990 [Faostat, 2020]. 7 luan an Hình 1. Năng suất lúa của một số quốc gia trên thế giới năm 2019 (Faostat, 2020) - Về sản lượng Sự gia tăng về diện tích và năng suất là những nguyên nhân chính thúc đẩy sự gia tăng về sản lượng lúa trên toàn cầu.

Năm 1961, sản lượng lúa thế giới là 215,64 triệu tấn/năm; đến năm 1989 sản lượng này là 514,42 triệu tấn/năm (đạt 138,55% so với năm 1961 và năm 2019 là 755,47 triệu tấn/năm (tăng 250,32%) [Faostat, 2020]. Sản lượng lúa toàn cầu năm 2019 (Faostat, 2020) 8 luan an Năm 2019, châu Á là châu lục có sản lượng lúa cao nhất thế giới với 677,27 triệu tấn/năm, chiếm tới 89,65% tổng sản lượng lúa toàn cầu; tiếp đến là châu Phi là 38,77 triệu tấn/năm và châu Mỹ là 35,32 triệu tấn/năm, tương ứng chiếm 5,1% và 4,67% tổng sản lượng lúa trên thế giới [Faostat, 2020]. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Cây lúa đã gắn bó hằng nghìn năm với con người Việt Nam, việc chọn tạo giống lúa chất lượng đáp ứng xuất khẩu và đáp ứng mở rộng vùng sản xuất hàng hoá chất lượng cao là nhiệm vụ lớn của các nhà tạo giống [Bộ NN và PTNT, 2021]. Số liệu thống kê năm 2019 cho thấy, Việt Nam là quốc gia có diện tích trồng lúa xếp thứ 6 với 7469,9 nghìn ha, năng suất xếp thứ 27 với 5,82 tấn/ha, sản lượng xếp thứ 5 trên thế giới với 43,45 triệu tấn/ha [Faostat, 2020].

Diện tích lúa chất lượng ở Việt Nam chiếm khoảng 1,2% tổng diện tích lúa toàn quốc (khoảng 80.000 ha), trong đó diện tích ở vụ Xuân khoảng 30.000 ha, vụ Mùa khoảng 50. Theo nghiên cứu của tác giả Lê Vĩnh Thảo và cộng sự (2009), ở miền Bắc (Nam Định và Thái Bình là vùng trồng lúa chất lượng lớn nhất, chiếm khoảng 30% toàn vùng (15. Theo nghiên cứu này, tác giả đã thực hiện phân loại 643 giống lúa chất lượng đại diện cho các hệ sinh thái của Việt Nam, và đã phát hiện giống lúa Indica chiếm 91,2% nguồn gen lúa của Việt Nam, giống Japonica chiếm 6,8%, giống lúa lai chiếm 0,7% và 1,3% giống còn lại chưa được phân loại [Lê Vĩnh Thảo và cộng sự, năm 2009]. 9 luan an Bảng 1.

Diện tích, năng suất, sản lượng lúa Việt Nam từ 1990 - 2019 Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn) 1990 6042,8 3,12 19,23 1995 6765,6 3,69 24,96 2000 7666,3 4,24 32,53 2009 7437,2 5,24 38,95 2010 7489,4 5,34 40,01 2011 7655,4 5,54 42,40 2012 7761,3 5,64 43,73 2013 7902,8 5,57 44,04 2014 7816,4 5,75 44,97 2015 7828,6 5,76 45,09 2016 7734,7 5,57 43,11 2017 7708,5 5,55 42,76 2018 7570,7 5,82 44,05 2019 7469,9 5,82 43,45 Nguồn: Faostat, 2020 Các giống lúa chất lượng Việt Nam được phân bố rộng từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng đến miền núi. Giống lúa chất lượng ở miền Bắc được chia thành hai nhóm: Lúa tẻ thơm và lúa lai thơm. Hiện nay, nhiều giống lúa chất lượng, có dạng thấp cây, hạt màu vàng đến nâu, cơm thơm, ngon, đã được đưa vào sản xuất như HT1, LT2, Bắc thơm 7, HQ19, Nghi hương 305.Phần lớn các giống này đều có năng suất cao và bố trí sản xuất được hai vụ trong năm. Chính vì vậy, diện tích trồng lúa chất lượng của cả nước ngày càng mở rộng.

Đây là nguyên nhân khiến cho lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đứng thứ ba thế giới. Sản lượng và giá trị xuất khẩu gạo cả năm 2020 đạt 6,15 triệu tấn và 3,07 tỉ USD, giảm 3,5% về sản lượng nhưng tăng 9,3% về giá trị so với năm 2019 [Faostat, 2020]. Những nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây lúa 1. Nghiên cứu về thời gian sinh trưởng Thời gian sinh trưởng của cây lúa gồm hai giai đoạn là sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực.

Các giống lúa có thời gian sinh trưởng quá ngắn thì sinh trưởng sinh dưỡng hạn chế nên không thể cho năng suất cao, ngược lại các giống lúa có thời gian sinh trưởng quá dài thường cho năng suất thấp do bị ảnh hưởng nhiều bởi các điều kiện ngoại cảnh bất lợi và dễ bị lốp đổ [ Ahn, S., và cộng sự, 2008]. Thời gian sinh trưởng của lúa chịu ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường như: Thời gian chiếu sáng/ngày, nhiệt độ và điều kiện đất. Thực hiện nghiên cứu di truyền thông qua việc tạo các đột biến làm mất tính cảm ứng quang chu kỳ ở một số giống lúa thơm đặc sản miền Bắc, Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự (2010) xác nhận các đột biến làm mất tính cảm ứng quang chu kỳ là các đột biến lặn, khả năng biểu hiện ở F1 không phụ thuộc vào hướng lai, được di truyền theo định luật Mendel trong lai đơn. Các đột biến gây ra chín sớm trong vụ mùa là các đột biến lặn không hoàn toàn, di truyền theo định luật Mendel trong lai đơn, gen cộng tính và siêu trội điều khiển tính trạng thời gian sinh trưởng.

Trong những năm gần đây nhiều nhà khoa học của các nước tiên tiến đã xác định được gen quy định thời gian sinh trưởng của cây lúa [Gao H. và cộng sự, 2014; Chen J. và cộng sự, 2014]. Một số gen rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu chọn tạo giống lúa, điển hình như gen Hd1, Hd3, là gen điều chỉnh thời gian sinh trưởng của cây lúa trong các điều kiện sinh thái khác nhau, với thời gian sinh trưởng dao động khoảng 100 ngày [Qin, M., và cộng sự 2015].

Hiện nay xu hướng sản xuất lúa được khuyến cáo là sử dụng các giống lúa ngắn ngày, chất lượng, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, phù hợp với cơ cấu xuân muộn - mùa sớm [Bộ NN và PTNT, 2021].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về tuyển chọn giống và biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại Thanh Hóa" của tác giả Nguyễn Thị Vân, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Bá Thông và TS Hoàng Tuyết Minh, tập trung vào việc nghiên cứu tuyển chọn giống lúa và xác định các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại vùng đồng bằng tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những kiến thức quý báu về giống lúa mà còn đưa ra các giải pháp thực tiễn giúp nông dân cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực nông nghiệp và các biện pháp kỹ thuật liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như "Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long", nơi nghiên cứu về các biện pháp bảo vệ thực vật, hay "Nghiên cứu nâng cao năng suất chất lượng lúa kháng bệnh bạc lá bằng phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử", tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp cải thiện giống lúa. Cuối cùng, "Đánh giá phát thải khí nhà kính N2O và CH4 trên hai mô hình canh tác lúa" cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn về tác động môi trường trong sản xuất lúa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sản xuất lúa và nông nghiệp bền vững.