CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” [33] theo Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007.
Khái niệm thành viên trong gia đình được hiểu là: “Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột” [31] theo Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Theo tinh thần Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì bạo lực gia đình còn được hiểu là sự phân biệt đối xử về giới “là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [32]. Bạo lực gia đình là một trong những hình thức ngấm ngầm nhất của nạn bạo lực chống lại phụ nữ. Nó phổ biến ở tất cả các xã hội.
Trong những mối quan hệ gia đình, phụ nữ thuộc tất cả các lứa tuổi phải chịu đựng tất cả những 8 loại bạo lực, kể cả đánh đập, hãm hiếp, bạo lực về tinh thần và những hành động bạo lực khác. Thiếu độc lập về kinh tế buộc nhiều phụ nữ phải chịu đựng các quan hệ bạo lực. Việc nam giới rũ bỏ một số trách nhiệm của họ trong gia đình cũng có thể là một hình thức bạo lực và ép buộc. Các hình thức bạo lực này gây nguy cơ cho sức khỏe của phụ nữ và làm giảm khả năng của phụ nữ tham gia vào đời sống gia đình và đời sống cộng đồng.
Theo Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ của Liên hiệp quốc năm 1993 thì “bạo lực đối với phụ nữ có nghĩa là mọi hành vi bạo lực trên cơ sở giới tính dẫn đến hoặc có thể dẫn đến sự xâm hại về thể chất, tình dục hoặc tâm lý hoặc sự đau khổ cho phụ nữ kể cả việc đe dọa có những hành vi như vậy, việc cưỡng đoạt hoặc tước đoạt vô cớ tự do của phụ nữ, cho dù diễn ra trong đời sống công cộng hoặc riêng tư” [11]. Theo định nghĩa trên, bạo lực gia đình đối với phụ nữ bao gồm các hành vi bạo lực trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục, tâm lý xảy ra trong gia đình. Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực luôn luôn là nam giới, thường là chồng hoặc chồng cũ, người cha, người anh, người em trai, con trai, cháu trai. Khái niệm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và đề cao thực hiện công tác xây dựng và phát triển gia đình theo mục tiêu bảo đảm xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ.
Bên cạnh đó, cũng đặc biệt quan tâm, bảo vệ người phụ nữ, cụ thể được thể hiện qua Hiến pháp năm 1946, đã ghi nhận (Điều 1) “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, 9 gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; (Điều 9) “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” [12]. Hiến pháp năm 1959 (Điều 24), quy định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” [13].
Hiến pháp năm 1980, có các quy định về gia đình rõ ràng, đầy đủ hơn: “gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng,… Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con” [14]. Hiến pháp năm 2013 quy định các vấn đề chung có tính nguyên tắc về gia đình và quan tâm, bảo vệ hơn đối với phụ nữ tại Điều 26 “công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội” [16].
Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác xây dựng và phát triển gia đình thời kỳ đổi mới như: Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật về dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội. Theo các quy định trên, có thể nói “Phòng, chống bạo lực gia đình là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi mọi hành vi bạo lực trong gia đình, nhằm bảo đảm xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình 10 đẳng, tiến bộ và tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình có điều kiện phát triển”. Vậy, “Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi mọi hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình, giúp cho người phụ nữ tránh được bạo lực gia đình, đảm bảo các quyền con người và có cuộc sống hạnh phúc”. Qua những phân tích trên, có thể hiểu: “Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới hành vi bạo lực giữa các thành viên trong gia đình, nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ, tạo điều kiện cần thiết để xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp phần ổn định trật tự xã hội, thực hiện các mục tiêu về quyền con người, quyền công dân theo những chủ trương, đường lối chung đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận”.
Như vậy, “Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới hành vi bạo lực gia đình đối với người phụ nữ trong gia đình, nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ, tạo điều kiện cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ, góp phần xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp phần ổn định trật tự xã hội”. Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một việc làm khó khăn và lâu dài. Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ trong xã hội, việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Việc PCBLGĐ đối với phụ nữ chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật và phù hợp với pháp 11 luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Đây chính là cơ sở pháp lý để bảo vệ con người trong đó có người phụ nữ trước bạo lực gia đình. Khái niệm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Khái niệm “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, định hướng nhằm thực hiện hóa nội dung các quy định pháp luật bằng hành vi hợp pháp của các chủ thể”. Như vậy, ngoài việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước còn phải tổ chức thực hiện pháp luật nhằm thực hiện hóa nội dung các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình bằng hành vi hợp pháp của các chủ thể có liên quan. Theo đó, có thể hiểu: thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật”.
Hay nói cách khác, thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được tiến hành theo những hình thức pháp lý nhất định, có mối liên hệ và quy định lẫn nhau trong một cơ chế phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn lịch sử, nhằm hiện thực hóa các yêu cầu, nội dung của quy phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, bảo đảm cho phòng, chống bạo lực gia đình được thiết lập và duy trì trong đời sống xã hội và gia đình. Vậy: thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, góp phần bảo đảm 12 quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ trong đời sống xã hội và gia đình. Đặc điểm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Thứ nhất, Chủ thể thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là toàn xã hội.