Chương 1: Cơ sở khoa học về huy động vốn của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn 2015 - 2017 Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn 2018 - 2020 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian quan trọng không thể thiếu với nền kinh tế của bất kì một quốc gia nào. Nghề ngân hàng bắt đầu từ các thợ vàng hoặc những kẻ cho vay nặng lãi và phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa.
Cho đến nay, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả, thành động lực cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được tổ chức theo mô hình ngân hàng hai cấp: Ngân hàng trung ương và Ngân hàng trung gian. Sự phân chia này dựa vào đối tượng giao dịch với ngân hàng. Ngân hàng trung gian giao dịch với công chúng, Ngân hàng trung ương chỉ giao dịch với ngân hàng trung gian mà không giao dịch với công chúng.
Ngân hàng trung gian được phân thành 4 loại hình ngân hàng, đó là ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng phát triển, ngân hàng đặc biệt (ngân hàng xuất nhập khẩu) và ngân hàng có mục đích xã hội (ngân hàng chính sách xã hội). Ngày nay, NHTM là một ttrung những tổ chức quan trọng nhất của nền kinh tế và thường chiếm tỷ trọng lớn về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. NHTM có lịch sử phát triển rất sớm, gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh tế, là một định chế tài chính kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về Ngân hàng thương mại.
Tại Việt Nam, luật các Tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa 12 thông qua 6 ngày 16/6/2010, định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh kh ác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”, và định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.35] Từ nhận định trên ta có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ tiền tệ như huy động vốn, cho vay và các dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 1. Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
“Nguồn: Giáo trình Lý thuyết Tài chính 2005” Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là hoạt động tín dụng và thanh toán. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. 7 Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM liên quan chặt chẽ với chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Thông qua hệ thống NHTM, Ngân hàng Nhà nước có thể tăng hoặc giảm lượng tiền tương ứng cho nền kinh tế.
Ngoài các chức năng trên NHTM còn có các chức năng khác như: chức năng uỷ thác, chức năng bảo hiểm, chức năng môi giới… 1. Chức năng trung gian tài chính NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa cung và cầu vốn. Nó tập trung những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để tài trợ lại cho nền kinh tế. NHTM với vai trò là trung gian tài chính đứng ra tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, điều tiết các nguồn vốn , tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không gián đoạn.
Trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm , khuyến khích đầu tư. Chức năng trung gian thanh toán NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán.
Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. 8 Ngân hàng thực hiện chức năng này vì hoạt động quản lý, thanh toán trên tài khoản sẽ an toàn,thuận tiện hơn nhiều so với thanh toán bằng tiền mặt. Để thực hiện tốt chức năng này ngân hàng phải tạo ra một cơ chế thanh toán hợp lý, thuận tiện, nhanh chóng và đảm bảo an toàn tài sản cho ngân hàng.
Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại hiện đại hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ tài sản nợ (hoạt động huy động vốn); nghiệp vụ tài sản có (hoạt động sử dụng vốn) và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ tư vấn, thanh toán hộ, giữ hộ… Ba nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM. Hoạt động huy động vốn NHTM có thể tạo lập vốn bằng cách huy động vốn nhàn rỗi của xã hội, đi vay của NHTM khác, Ngân hàng trung ương (NHTW) và vốn tự có. NHTM thường huy động vốn nhàn rỗi của xã hội qua các phương thức nhận tiền gửi, phát hành các chứng từ có giá như: kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu (đối với NHTMCP). Nguồn vốn đi vay của Ngân hàng khác là nguồn vốn được hình thành bởi các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau, hoặc giữa các tổ chức tín dụng với NHTW.
Vốn tự có của Ngân hàng bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của NHTW. Với hoạt động huy động vốn, Ngân hàng thương mại bước đầu có điều kiện để thực hiện các chức năng cơ bản của mình, thực hiện vai trò trung gian tài chính để lưu chuyển nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu với chi phí hợp lý, giảm thiểu trường hợp thông tin bất cân xứng trên thị trường. Hoạt động sử dụng vốn Bên cạnh huy động vốn, sử dụng vốn là hoạt động chủ yếu của mỗi Ngân hàng. Nếu một Ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào nhưng không sử dụng vốn hợp lý, hiệu quả thì không những không đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng, ngược lại còn không có nguồn bù đắp chi phí từ việc huy động, làm giảm khả năng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Hoạt động sử dụng vốn bao gồm các hoạt động: Ngân quỹ, cho vay, đầu tư tài chính… Một Ngân hàng có hoạt động sử dụng vốn hiệu quả cao sẽ nâng cao vai trò, uy tín của Ngân hàng, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường, từ đó thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch với mình, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng hoạt động huy động vốn. Vì vậy, nhiệm vụ của mỗi Ngân hàng là phải thường xuyên bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế của vùng, ngành, đất nước… nhằm đưa ra các hình thức đầu tư đúng đắn, có hiệu quả cao. Trên cơ sở thực hiện nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu sử dụng vốn của xã hội, thực hiện cho vay theo dự án đầu tư, chương trình sản xuất kinh doanh cũng như các nhu cầu khác. Hoạt động trung gian khác Hoạt động trung gian là những hoạt động được thực hiện theo sự ủy thác của khách hàng như: dịch vụ chuyển tiền, thanh toán ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, phát hành séc, bảo lãnh, thanh toán thẻ, dịch vụ quản lý tài sản, cung cấp thông tin, tư vấn kinh doanh, đầu tư và quản trị doanh nghiệp… Nền kinh tế ngày càng phát triển, các hoạt động trung gian của Ngân hàng cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú đa dạng [14, tr.50] Các hoạt động trung gian phản ánh mức độ phát triển của Ngân hàng.
Ở các nước phát triển, NHTM thực hiện rất nhiều hoạt động trung gian và luôn có dịch vụ cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng. 10 Việc đa dạng hóa các dịch vụ cung ứng sẽ làm tăng thu nhập cho Ngân hàng, tăng uy tín và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng.