phần mở đầu, phần kết luận, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng. Cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thƣơng Lào (BCEL) Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại Thƣơng Lào (BCEL). 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm huy động vốn Trầm Thị Xuân Hƣơng (2013) viết rằng “Huy động vốn là một trong các nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM, qua việc Ngân hàng nhận ủy thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tác có hoàn trả cả gốc và lãi đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng”. Theo luật ngân hàng thƣơng mại của Lào số 56/QH, ban hành 7/12/2018, điều 33 đã quy định rằng: huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng trong nhiều nghiệp vụ của ngân hàng, thông qua nghiệp vụ huy động vốn đã cung cấp nguồn vốn quan trọng và cho phép ngân hàng thƣợc hiện nghiệp vụ tín dụng. Huy động vốn của ngân hàng có thể thông qua nhiều kênh: nhận tiền gửi từ cá nhân và pháp nhân hoặc ngân hàng có thể huy động vốn thông qua kênh vay vốn hay phát hành cổ phiếu trong nƣớc và nƣớc ngoài theo luận pháp cho phép. Tóm lại, HĐV là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn nên đóng vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến quy mô và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.
NHTM mua quyền sử dụng các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của khách hàng trong một thời gian nhất định với trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và chi phí phải trả cho khách hàng dƣới hình thức lãi tiền gửi. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Để thực hiện đƣợc các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi NHTM phải có một lƣợng vốn hoạt động nhất định. 8 Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do bản thân NHTM tạo lập hoặc huy động đƣợc dùng để cho vay, đầu tƣ hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Các nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay và nguồn vốn khác. Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Vốn chủ sở hữu Trầm Thị Xuân Hƣơng (2013) viết rằng “Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng, do chủ sở hữu của Ngân hàng góp vào khi thành lập Ngân hàng và đƣợc bổ sung trong quá trình hoạt động của Ngân hàng từ vốn góp thêm của chủ sơ hữu và từ lợi nhuận của Ngân hàng”. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NMTM những đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, quyết định năng lực tài chính, quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh của NHTM.
Vốn chủ sở hữu là loại vốn Ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, không phải hoàn trả trong quá trình hoạt động nên vốn chủ sở hữu là nguồn vốn có tính ổn định và thông thƣờng đƣợc sử dụng cho mục đích dài hạn. Vốn huy động Trầm Thị Xuân Hƣơng (2013) viết rằng “Vốn huy động là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế, đƣợc Ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu”. VHĐ của NHTM chủ yếu bao gồm: Nhận tiền gửi KKH, tiền gửi CKH thông qua các hình thức nhƣ thẻ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các công cụ nợ khác. VHĐ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM, là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của NHTM.
Tuy nhiên, khi đến hạn Ngân hàng phải hoàn trả cho chủ sở hữu cả gốc và lãi nên VHĐ là thành phần vốn có tính biến động. Khi sử dụng nguồn vốn này NHTM phải thiết lập dự trữ để đáp ứng Kíp thời nhu cầu thanh khoản. Vốn đi vay Trầm Thị Xuân Hƣơng (2013) viết rằng “Vốn đi vay là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế mà NHTM chủ động thỏa thuận sử dụng để bù đắp thiếu hụt thanh khoản tạm thời trong hoạt động kinh doanh. NHTM có thể vay từ nhiều chủ thể khác nhau nhƣ: Vay từ các TCTD khác trong nƣớc, vay từ các Ngân hàng và các tổ chức tài chính nƣớc ngoài, vay từ NHTW”.
Nguồn vốn khác Ngoài các hình thức HĐV trên thì Ngân hàng có thể huy động từ: + Vốn trong thanh toán: Là nguồn vốn mà Ngân hàng tạo lập đƣợc trong quá trình làm trung gian thanh toán. + Vốn tiếp nhận: Là số vốn NHTM tiếp nhận từ Ngân hàng nhà nƣớc do tài trợ, uỷ thác đầu tƣ, làm đại lý, để cấp phát và cho vay các công trình tập trung trọng điểm của Nhà nƣớc. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại Có nhiều hình thức HĐV tùy theo cách phân loại, cụ thể nhƣ sau: 1. Theo thời gian huy động Huy động vốn ngắn hạn Các khoản huy động có thời gian dƣới 12 tháng đƣợc gọi là các khoản huy động ngắn hạn.
Tùy theo chiến lƣợc phát triển cũng nhƣ mức độ đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi của các NHTM mà có thể chia nhỏ thành các kỳ hạn theo tuần, tháng, quý. Huy động vốn trung và dài hạn Ngƣợc với huy động ngắn hạn, các khoản huy động có thời gian dài trên 12 tháng đƣợc gọi là các khoản huy động TDH. Do kỳ hạn dài nên lãi suất chi trả cho nguồn tiền này thƣờg cao, đồng thời cũng chiếm tỷ trọng thấp hơn so với nguồn ngắn hạn trong tổng nguồn VHĐ. Theo loại tiền huy động NHTM căn cứ vào tính thanh khoản, mức độ ƣa thích, nhu cầu dự trữ, đầu tƣ của ngƣời dân để quyết định phƣơng thức huy động bằng nội tệ hoặc là 10 ngoại tệ (thƣờng là ngoại tệ mạnh nhƣ USD, EUR.
Huy động bằng nội tệ Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng, thanh toán trong nƣớc nên khách hàng thƣờng gửi tiền bằng đồng nội tệ. Nguồn vốn này thƣờng chiếm phần lớn trong nguồn VHĐ và có lãi suất cao hơn. Huy động bằng ngoại tệ Từ nhu cầu đầu tƣ, cất trữ bằng các ngoại tệ mạnh của khách hàng, hay nhu cầu thanh toán trong xuất nhập khẩu hàng hóa đã làm nên nguồn VHĐ bằng ngoại tệ trong Ngân hàng. Do sự biến động về tỷ giá nên lãi suất huy động của loại này thƣờng thấp hơn so với huy động bằng nội tệ.
Phân loại theo đối tượng huy động Huy động từ tiền gửi của các TCKT Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các TCKT thƣờng có một bộ phận vốn nhàn rỗi tạm thời nhƣ: Khấu hao đã trích nhƣng chƣa đến lúc sử dụng; Tiền thu bán hàng chƣa phải mua nguyên liệu, trả lƣơng; Các quỹ đầu tƣ phát triển, phúc lợi, khen thƣởng đã trích nhƣng chƣa sử dụng đến… Để đảm bảo an toàn nguồn vốn mà tài sản vẫn sinh lời, các TCKT có thể gửi số vốn đó vào Ngân hàng. Hoặc để thuận tiện cho việc SDV, đơn vị có thể thanh toán qua Ngân hàng cũng nhƣ sử dụng các dịch vụ Ngân hàng khác. Tiền gửi của các TCKT bao gồm: Tiền gửi KKH và Tiền gửi CKH. Huy động từ tiền gửi của dân cư Tiền gửi của dân cƣ là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cƣ trong xã hội gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và để thanh toán.
Loại tiền này bao gồm: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán. Huy động từ các định chế tài chính khác NHTM có thể HĐV từ các định chế tài chính khác bao gồm: - Huy động vốn của tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn các Ngân hàng vay lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên thị trƣờng liên Ngân hàng để đáp ứng nhu cầu dự trữ, chi trả cấp bách và 11 trong nhiều trƣờng hợp có thể bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mƣợng từ NHTW. - Vay của Ngân hàng Trung ƣơng (NHTW): NHTW là Ngân hàng thực hiện cho vay cuối cùng trong nền kinh tế. Vì vậy các NHTM chỉ đƣợc vay của NHTW khi cần thiết, hoặc khi cần bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ.
Trong trƣờng hợp đặc biệt, khi đƣợc thủ tƣớng Chính phủ chấp thuận, NHTW còn cho vay đối với các NHTM tạm thời bị mất khả năng chi trả, có nguy cơ mất an toàn cho hệ thống. Huy động vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá Trái phiếu Ngân hàng Ngân hàng phát hành trái phiếu này nhằm HĐV trung và dài hạn, việc phát hành trái phiếu của NHTM chịu sự quản lý của NHNN, của các cơ quan quản lý trên thị trƣờng chứng khoán và có thể bị chi phối bởi uy tín của Ngân hàng. Kỳ phiếu Ngân hàng Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (trong một năm). Đƣợc sử dụng cho mục đích HĐV ngắn hạn của Ngân hàng.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi Ngƣời sở hữu giấy này sẽ đƣợc thanh toán tiền lãi theo kỳ hạn và nhận đủ vốn khi đến hạn. Với việc phát hành các giấy tờ có giá để HĐV, Ngân hàng có khả năng tập trung một khối lƣợng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động trong sử dụng. Huy động vốn bằng các hình thức nhận ủy thác Đối với một NHTM, ngoài việc có thể nhận đƣợc vốn ủy thác đầu tƣ của Nhà nƣớc và các tổ chức tài chính trong nƣớc và quốc tế theo các chƣơng trình, dự án có mục tiêu cụ thể. Để đƣợc nhận nguồn vốn này, các Ngân hàng phải lập dự án cho từng đối tƣợng hoặc nhóm đối tƣợng phù hợp với đối tƣợng các khoản vay.
Sử dụng số dƣ trên tài khoản thanh toán vãng lai nhƣ chênh lệch giữa thu hộ và chi hộ… 12 1. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại 1.