Chương 1, Điều 13, “Huy động vốn là hoạt động trong mà các tổ chức, cá nhân nhận tiền dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, trái phiếu Chính phủ và các loại tiền gửi khác, phát hành phiếu thu theo nguyên tắc lãi cho người gửi tiền và tiền gốc theo thỏa thuận”. Huy động vốn từ KHCN là huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư của KHCN thông qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, giấy tờ có giá. Đặc điểm, vai trò - Đặc điểm Quy mô đa dạng: NHTM huy động vốn từ khách hàng cá nhân thông qua 8 nhiều sản phẩm và dịch vụ như tiết kiệm, gửi tiền thanh toán, trái phiếu, quỹ đầu tư, v. Tính linh hoạt: NHTM cung cấp các lựa chọn và điều kiện hấp dẫn để cải thiện quá trình thu vốn từ KHCN.
Tính an toàn: NHTM cam kết bảo đảm vốn và lợi nhuận cho khách hàng cá nhân thông qua các sản phẩm và chính sách bảo mật. Quản lý rủi ro: NHTM cần quản lý rủi ro liên quan đến việc huy động vốn từ khách hàng cá nhân để đảm bảo vận hành ổn định và tin cậy của ngân hàng. * Vai trò - Nguồn vốn huy động là cơ sở để NHTM hoạt động KD Theo Peter S (2004), Vốn là yếu tố quyết định trong việc xây dựng và phát triển sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp, đặc biệt là các ngân hàng thương mại. Với vai trò của một tổ chức kinh doanh tài chính, vốn có thể hiểu công cụ kinh doanh, cũng là đối tượng chủ yếu của hoạt động kinh doanh.
Vốn là một phần tất yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Vì vậy, ngoài nguồn vốn cốt lõi, các ngân hàng thương mại phải huy động vốn bên ngoài. Nguồn vốn này có tác động đến kinh doanh và đầu tư của các NHTM và do đó có ảnh hưởng đến thu nhập của các NHTM. Lượng vốn công bố lớn là cơ sở để các ngân hàng thương mại có được ưu thế khi đầu tư vào các dự án lớn, qua đó củng cố vị thế của các ngân hàng thương mại trong lĩnh vực này.
Vốn là điểm tất yếu phải có trong quá trình kinh doanh của ngân hàng thương mại. Vì vậy các ngân hàng thương mại đẩy mạnh tìm nguồn vốn trong quá trình hoạt động. - Huy động vốn tác động đến các hoạt động khác của NHTM Davidz Cox Z (2007) cho rằng: ” Huy động vốn của một ngân hàng có tác động trực tiếp đến hầu hết mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động tín dụng, hoạt động thanh toán và hoạt động ngân hàng. Bảo lãnh thanh toán hoặc kinh doanh trao đổi tiền tệ.
Nếu vốn được huy động tốt, nguồn cung tiền của ngân hàng sẽ tăng lên, từ đó làm phong phú thêm danh mục cho vay, đầu tư và tăng vốn cho vay. Ngoài ra, việc huy động vốn thành công tạo ra một lượng vốn 9 lớn. Điều này cho phép các ngân hàng thương mại thay đổi chính sách tín dụng của họ, có thể bằng cách giảm lãi suất và tăng khối lượng cho vay. Khi nguồn vốn của ngân hàng thương mại dồi dào, ngân hàng thương mại có điều kiện phát triển chi nhánh, đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, thu hút khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh và uy tín trên thị trường .” - Hoạt động huy động vốn tác động rõ rệt đến khả năng thanh toán của NHTM cũng như uy tín Một trong những yếu tố cốt yếu nhất để ngân hàng trường tồn và lớn mạnh trong nền kinh tế thị trường là xây dựng được sự tin tưởng từ khách hàng dành cho phía ngân hàng.
Độ tin cậy chủ yếu thể hiện ở việc dễ dàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đây là một điều luôn khiến các ngân hàng lo lắng nhất trong nền kinh tế bất ổn hiện nay. Khách hàng sẽ luôn tin tưởng khi giao dịch với ngân hàng nếu họ có kêu gọi vốn hiệu quả và năng lực thanh toán kịp thời. Đặc biệt, Khách hàng chủ động gửi tiền vào các ngân hàng có uy tín cao hơn. Theo Phan Thị Thu Hà (2009), Nguyễn Đăng Đô (2014), “Ngân hàng có thể đầu tư vào hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch hiện đại và xây dựng niềm tin trong quần chúng nhờ nguồn vốn huy động lớn.
Huy động vốn càng mạnh thì ngân hàng càng có khả năng sống sót qua thời kỳ khó khăn.” - Huy động vốn tác động rõ rệt đến khả năng cạnh tranh của NHTM Đối với các ngân hàng thương mại, điều kiện tiên quyết để tăng lượng tín dụng là phải có đủ vốn huy động, chủ động về thời hạn, thời gian cho vay và khả năng lựa chọn lãi suất thích hợp với từng chủ thể khách hàng. Điều này sẽ giúp ngân hàng hấp dẫn được đa dạng khách hàng hơn, doanh thu của ngân hàng được đề ra sẽ tăng cao, ngân hàng sẽ thu nhiều lợi ích hơn trong kinh doanh. Huy động đủ vốn là điểm khởi đầu tốt để ngân hàng đầu tư vào thiết bị công nghệ mới, thu hút nhân lực và tổ chức các chương trình đào tạo nhằm nâng cao kiến thức, trình độ và kỹ năng của đội ngũ nhằm cho cán bộ nhân viên ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn. Phùng Thị Lan Hương (2020), nghiên cứu gần đây của Olivier.
(2021) đều khẳng định “Ngân hàng có lượng vốn huy động lớn thực hiện các hoạt động kinh doanh đa 10 dạng. Ngày nay, các ngân hàng không chỉ tham gia cho vay mà còn mở rộng sang các dịch vụ khác, liên doanh, hợp tác, dịch vụ chuyển nhượng, mua bán nợ và giao dịch trên thị trường ngoại hối. Đa dạng hóa các hình thức kinh doanh giúp ngân hàng phân tán rủi ro kinh doanh, tạo thêm vốn và thu nhập, chủ yếu là tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Vai trò của huy động vốn trong ngân hàng rất quan trọng, do đó các ngân hàng thương mại phải luôn chú trọng đến việc đảm bảo kiểm soát việc huy động vốn trong hoạt động của mình.
Hiệu quả huy động vốn khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Theo nghiên cứu của Lê Cường, H. (2019) Hiệu quả huy động vốn của NHTM chính là kết quả huy động mà ngân hàng đạt được, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo được mục tiêu an toàn và sinh lợi cao cho ngân hàng trong từng thời kỳ.2 Tiêu chí đánh giá Nếu khả năng huy động vốn của ngân hàng đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn hợp lý và cam đoan khả năng sinh lãi của ngân hàng trong từng giai đoạn, thì quá trình huy động vốn của ngân hàng được coi là có hiệu quả. Theo quan điểm từ phía ngân hàng, đó là phải theo dõi kỹ nhu cầu sử dụng vốn, việc huy động vốn không chỉ theo nhu cầu mà còn theo cơ cấu vốn (kỳ hạn, đồng tiền…) với chi phí.
duy trì sự ổn định của nguồn vốn huy động có thể hạn chế rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Để đánh giá hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Các ngân hàng thương mại có thể sử dụng các tiêu chí đánh giá chung sau: (1) Tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động năm sau với năm trước Theo nghiên cứu của Quỳnh, P. (2017) “Về tổng vốn, tốc độ tăng trưởng tính toán cũng có thể được nghiên cứu riêng cho từng loại vốn.
Sự biến động của tổng nguồn vốn không giống như sự biến động của từng loại vốn. Chỉ tiêu này cùng với tỷ lệ khả năng thanh toán giúp đánh giá năng lực huy động vốn của các ngân hàng thương mại một cách sâu sắc và toàn diện hơn. Từ đó, đưa ra được tỷ lệ 11 tăng trưởng theo công thức : (2) Cơ cấu vốn huy động Theo nghiên cứu của Ngọc, L. (2010) “Cơ cấu vốn của một ngân hàng là một phần quan trọng để đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng.
Bằng cách xem xét tỷ trọng các loại trên tổng số nguồn vốn mà ngân hàng huy động được, ngân hàng có thể xem xét cơ cấu vốn huy động của mình. Từ đó ta có công thức : Việc tính toán tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu là tương đối khó khăn. Điều này có thể được thực hiện bằng cách phân loại vốn theo nhiều tiêu chí khác nhau: theo đối tượng huy động, thời hạn, tính chất hoặc loại tiền tệ. Những phân tích, đánh giá được trình bày theo từng khía cạnh phản ánh tốt hơn khả năng huy động vốn của các ngân hàng thương mại.
Các loại vốn chiếm tỷ trọng lớn thể hiện lợi thế trong việc huy động các loại vốn. Bên cạnh đó, nó cũng thể hiện sự quan tâm của ngân hàng đối với một số hình thức huy động nhất định. Bằng cách này, mọi người có thể xem chính sách huy động vốn của ngân hàng và ước tính liệu ngân hàng có thể đạt được mục tiêu nếu thay đổi cơ cấu vốn hay không. (3) Chi phí huy động vốn bình quân năm sau so với năm trước Theo PGS.
Lê Văn Tư và ThS. Đặng Ngọc Lan (2005), diễn đàn Nghiên cứu về Tài chính tiền tệ, Ngân hàng truyền thống bao gồm hai phần chính: huy động vốn và lựa chọn tài sản sinh lời để đầu tư các nguồn vốn huy động được. Các ngân hàng luôn cố gắng kiếm lợi nhuận từ hai ngành này. Do đó, phương pháp xác định chi phí huy động vốn là một phương pháp rất hữu ích cho ngân hàng khi xây dựng chính sách kinh doanh hiệu quả.
Ngân hàng quan tâm đến chi phí huy động vốn vì 12 hai lý do chính. - Yếu tố cơ bản để xác định mức lợi nhuận mà ngân hàng cần thu được từ các tài sản có sinh lời là tính toán tương đối chính xác chi phí huy động vốn. - Rủi ro thanh khoản, lãi suất và vốn bị ảnh hưởng bởi cách ngân hàng huy động và sử dụng vốn. (2022) tất cả chi phí kêu gọi vốn mà ngân hàng đã sử dụng để kêu gọi vốn năm sau sẽ tăng hay giảm một đồng.
Nếu chỉ số này thấp hơn 1 chứng tỏ nỗ lực huy động vốn có hiệu quả đến nhu cầu tín dụng của khách hàng. (4) Khả năng đáp ứng yêu cầu cho vay từ nguồn năm sau so với năm trước Theo Thông tư 08/2020/TT-NHNN của Ngân hàng Quốc gia ngày 14/8/2020 sửa đổi, bổ sung Thông tư 22/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Quốc gia, các ngân hàng phải giảm tỷ lệ vốn tối đa trong ngắn hạn, trung bình và lâu dài.