CHƯƠNG 1.TONG QUAN VE NGHIÊN CUU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUA CHO VAY CUA NGAN HÀNG THUONG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề tài về nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng cho đến nay cũng đã được nhiều tác giả, học giả trong và ngoài nước lấy làm đề tài nghiên cứu phân tích. Nhìn chung, liên quan đến hoạt động cho vay ở Việt nam thì hầu như chỉ tập trung vào các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước do vốn di Việt Nam luôn có những đặc thù riêng. Đồng thời các nghiên cứu này phần nhiều vẫn là các bài báo, bài viết trên các tạp chí khoa học, các tranh luận ở hội thảo khoa học.
Có thé kế đến một số nghiên cứu sau đây : - Phạm Thị Hải Yến (2019), đề tài “Máng cao hiệu quả hoạt động cho vay KHCN tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam — Chỉ nhánh Hoàn Kiếm ”. Luận văn thạc sỹ ĐH Ngoại thương. Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động cho vay KHCN, hiệu quả hoạt động cho vay KHCN, nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay KHCN, các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay KHCN tại NHTM. Luận văn đã phân tích đánh giá thực trạng kết quả kinh doanh và hiệu quả cho vay KHCN tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam — Chi nhánh Hoàn Kiếm, trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho vay KHCN tại VCB Hoàn Kiếm trong thời gian tới bao gồm giải pháp đối với chỉ nhánh Hoàn Kiếm, một số kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng nhà nước và Chính phủ.
- Nguyễn Văn Toán (2017), đề tài “Hiệu quả hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phan Công thương Việt Nam - Chỉ nhánh 11 TP. Luận văn thạc sỹ Đại học Ngân hàng TPHCM. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng hoạt động cho vay tại VietinBank CN 11, phân tích sự tác động của cơ chế chính sách cũng như các chỉ tiêu đánh giá, nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay dé đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay. Trên cơ sở vận dụng các phương pháp nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, luận văn đã hệ thống hoá những lý luận cơ bản về cho vay, hiệu quả hoạt động cho vay, các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay.
Luận văn cũng đã phân tích, đánh giá tình hình cho vay và hiệu quả hoạt động cho vay tại VietinBank CN 11 trong giai đoạn từ 2015-2016. Đồng thời, trên cơ sở thực trạng, những hạn chế còn tôn tại, luận văn đã đề cập tới một số giải pháp và kiến nghị đối với các cơ quan chức năng có liên quan, tới VietinBank nhằm nâng cao chất lượng cho vay tại VietinBank CN 11. - Nguyễn Thanh Thảo (2016), đề tài “Máng cao hiệu quả cho vay tai Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam — Chỉ nhánh Phúc Yên”. Luận văn thạc sỹ ĐH Bách Khoa Hà Nội.
Luận văn đã hệ thông hoá các lý luận cơ bản về hoạt động cho vay của Ngân hàng, đặc biệt tập trung vào lý luận hiệu quả trong hoạt động cho vay, đề cập tới những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM. Những lý luận này là căn cứ, cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng hiệu qua hoạt động cho vay của BIDV Chi nhánh Phúc Yên. Phân tích một cách hệ thống và khoa học thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay tại BIDV Chi nhánh Phúc Yên trong thời gian ké từ khi được nâng cấp lên chi nhánh cấp 1 (Trực thuộc BIDV) đến năm 2015, những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế cũng như các giải pháp dé nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tại BIDV Chi nhánh Phúc Yên. Trên cơ sở những đánh giá nhận định và thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay tại NHTM, đề tài đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm hoàn thiện hơn nữa hiệu quả hoạt động cho vay tại BIDV Chi nhánh Phúc Yên.
- Nguyễn Hường (2013), đề tài “Chat lượng hoạt động tín dụng, nên tảng cho sức cạnh tranh của ngân hàng” tạp chí Thuế nhà nước sô 4/2013, tác giả phân tích tỷ lệ nợ xấu trong năm 2013 tăng cao và nhiệm vụ quan trọng của toàn hệ thống ngân hàng là xử lý nợ xấu, đặc biệt là trong quá trình tái cơ cau khu vực ngân hang thì xử lý nợ xấu là cần thiết và phải chú trọng không chỉ các giải pháp vĩ mô mà còn tập trung vào các phương pháp xử lý vi mô. Dé khắc phục tình trạng trên, việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng là một trong những yêu cầu cấp thiết và tác giả đã đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng mà các NHTM cân thực hiện. - Nguyễn Tấn Ngọc (2012), đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng”, tạp chí thương mại, số 32 đã phân tích mở rộng cho vay đến đâu phải kiểm soát rủi ro tín dụng đến đấy. Từ thực tế phân tích, tác giả đã đưa ra một vài giải pháp nhằm mở rộng, nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng.
Đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động cho vay với nhiều đối tượng ở nhiều góc độ và mục đích khác nhau trong lĩnh vực ngân hàng như: luận văn thạc sỹ, một số bai báo trên tạp chi tai chính, tạp chí ngân hang,. các công trình nghiên cứu đó đã đóng góp về mặt lý luận và được vận dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của các Ngân hàng. Tác giả đã kế thừa và phát triển dé phù hợp với những phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay tai SHB chi nhánh Thăng Long và đề xuất một số giải pháp dé hoạt động cho vay tại đơn vị phát triển một cách hiệu quả vả an toàn. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1.
Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường Hệ thống trung gian tài chính nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, là cầu nối giữa các chủ thê trong nền kinh tế, làm cho các chủ thể gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau, tăng sự liên kết và năng động của toàn bộ hệ thống. Ngày nay NHTM trở thành định chế tài chính không thé thiếu dé vận hành nền kinh tế, riêng hệ thống ngân hàng thương mại Nhà nước còn được coi là “cánh tay đắc lực” của Chính phủ trong thực thi chính sách tiền tệ nhằm thực hiện mục tiêu 6n định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lam phát và bảo đảm an sinh xã hội của đất nước. Ở Việt Nam, theo Luật tô chức tin dụng khoản 1 và khoản 7 Điều 20 đã xác định: "Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán" và trong các loại hình tô chức tin dụng thì " ngân hang là một tô chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yêu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán". Từ những nhận định trên có thê thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. e NHTM thực hiện một số chức năng chính sau: - Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ dé thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng. Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền dé gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán du ở gần hay xa mà họ có thé sử dụng một phương thức nào đó dé thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thé kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đây lưu thông hàng hóa, đây nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyền vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. - Chức năng trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phan tạo lợi ích cho tat cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. - Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tổn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.