Chương 1: Tổng quan lý luận về thị trường BĐS và cho vay BĐS của NHTM. Chương 2: Thực trạng cho vay BĐS của các NHTM trên địa bàn TP. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay BĐS của các NHTM trên địa bàn TP. Kết luận 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƢỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VÀ CHO VAY BẤT ĐỘNG SẢN 1.
THỊ TRƢỜNG BẤT ĐỘNG SẢN 1. Khái niệm hàng hóa bất động sản 1. Khái niệm bất động sản Việc phân loại tài sản thành BĐS và động sản có nguồn gốc từ luật cổ La Mã, theo đó BĐS không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. BĐS bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ.
Hầu hết các nước đều coi BĐS là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất (Điều 517, 518 Luật Dân sự Cộng hoà Pháp, Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản, Điều 130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga, Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Đức…). Tuy nhiên, Cộng hòa Liên bang Nga quy định cụ thể BĐS là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung. [6] Theo điều 174 Bộ Luật dân sự Việt Nam [29]”BĐS là các tài sản bao gồm: - Đất đai. - Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó.
- Các tài sản khác gắn liền với đất đai. - Các tài sản khác do pháp luật quy định”. Như vậy, BĐS là đất đai và những tài sản gắn liền với đất không di dời được, tồn tại ổn định và lâu dài. BĐS có những đặc tính sau: - Là yếu tố vật chất có ích cho con người.
- Được chiếm hữu bởi cá nhân và cộng đồng người. - Có thể đo lường bằng giá trị nhất định. 2 - Không thể di dời, hoặc di dời hạn chế để tính chất, công năng, hình thái của nó không thay đổi. Khái niệm hàng hóa bất động sản Hàng hóa BĐS là BĐS được đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Hàng hóa BĐS có thể xác định gồm 02 loại chủ yếu: đất đai và các vật kiến trúc đã xây dựng gắn liền với đất. Cũng giống như những hàng hóa khác, hàng hóa BĐS cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hoá BĐS là hao phí sức lao động của con người kết tinh vào BĐS. Một miếng đất, một công trình xây dựng trên đất nếu đều là kết tinh của quá trình lao động, khai phá và xây dựng nên.
Giá trị sức lao động kết tinh vào hàng hóa BĐS sẽ quyết định đến giá trị trao đổi của hàng hoá BĐS đó. Giá trị sử dụng của hàng hóa BĐS là công dụng của hàng hoá để thoả mãn nhu cầu của con người. Giá trị sử dụng là giá trị sử dụng xã hội. Nó không phải là giá trị sử dụng cho người trực tiếp sản xuất mà là cho xã hội thông qua trao đổi mua bán.
Do đó, người sản xuất phải luôn quan tâm đến như cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của họ phù hợp với nhu cầu xã hội. - Giá trị sử dụng mang trên mình giá trị trao đổi. Để hiểu giá trị của hàng hoá, trước hết, ta phải hiểu giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác.
Ví dụ như: 1m vải có giá trị trao đổi bằng 5 kg thóc. - Hai hàng hoá khác nhau như vậy có thể trao đổi với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở chung. Lao động hao phí tạo ra hàng hoá chính là cơ sở chung cho việc trao đổi đó và tạo ra giá trị của hàng hoá. Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong sản phẩm.
Giá trị trao đổi là biểu hiện bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung bên trong, là cơ sở của giá trị trao đổi. Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá. Hai thuộc tính 3 đó của hàng hoá vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất.
Chúng thống nhất ở chỗ: chúng cùng tồn tại trong hàng hoá, một hàng hoá phải có hai thuộc tính này, thiếu một trong hai thuộc tính thì không phải là hàng hoá. Tuy nhiên, chúng mâu thuẫn ở hai điểm: thứ nhất, về một giá trị sử dụng thì hàng hoá khác nhau về chất còn về mặt giá trị thì hàng hoá lại giống nhau về chất; Thứ hai, giá trị được sử dụng trong quá trình lưu thông còn giá trị sử dụng được thực hiện trong quá trình tiêu dùng. - Hai thuộc tính của hàng hoá này không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong hàng hoá mà là do lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt, vừa có tính trừu tượng (lao động trừu tượng), vừa có tính cụ thể (lao động cụ thể). Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định.
Mỗi một lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Do đó, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá. Nếu phân công lao động xã hội càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Lao động trừu tượng chính là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hoá nói chung.
Chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá tạo ra giá trị của hàng hoá. Ta có thể nói, giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hoá. Đây chính là mặt chất của giá trị hàng hoá. Do đặc điểm riêng mà BĐS được xem là hàng hóa đặc biệt.
Hàng hóa BĐS có những đặc trưng sau: - Tổng cung hàng hóa BĐS có tính ổn định cao và việc cung ứng BĐS phù hợp cho từng mục đích riêng, bị hạn chế về mặt quy hoạch nhà nước. Do đó, trong dài hạn giá cả BĐS luôn có xu hướng tăng lên và cung hàng hóa BĐS hầu như không co giãn so với giá. - Thời gian giao dịch hàng hóa BĐS dài hơn so với các giao dịch hàng hóa thông thường, bởi vì giao dịch BĐS không chỉ giao dịch bản thân BĐS mà còn bao gồm cả hồ sơ pháp lý của BĐS đó nữa. Do đó chi phí giao dịch BĐS thường khá cao.
4 - Tính thanh khoản hàng hóa BĐS kém do hàng hóa BĐS thường có giá trị cao, thời gian giao dịch dài nên khả năng chuyển nhượng thành tiền thấp. - Hàng hóa BĐS được sự quản lý chặt chẽ của nhà nước và chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như: tập quán, tâm lý, thị hiếu và tính cộng đồng. Thuộc tính của hàng hóa bất động sản 1. Thuộc tính duy nhất, độc đáo, cá biệt của hàng hóa BĐS Một mảnh đất, một công trình xây dựng trên đất, về mặt địa thế, gần như không thể lặp lại một cái thứ hai tương tự.
Đặc điểm này của BĐS xuất phát từ tính cá biệt và khan hiếm của đất đai. Tính khan hiếm của đất đai là do diện tích bề mặt trái đất là có hạn. Tính khan hiếm cụ thể của đất đai là giới hạn về diện tích đất đai của từng miếng đất, khu vực, vùng, địa phương, lãnh thổ v. Chính vì tính khan hiếm, tính cố định và không di dời được của đất đai nên hàng hoá BĐS có tính cá biệt.
Trong cùng một khu vực nhỏ kể cả hai BĐS cạnh nhau đều có những yếu tố không giống nhau. Trên thị trường BĐS khó tồn tại hai BĐS hoàn toàn giống nhau vì chúng có vị trí không gian khác nhau kể cả hai công trình cạnh nhau và cùng xây theo một thiết kế. Ngay trong một toà cao ốc thì các căn phòng cũng có hướng và cấu tạo nhà khác nhau. Ngoài ra, chính các nhà đầu tư, kiến trúc sư đều quan tâm đến tính dị biệt hoặc để tạo sự hấp dẫn đối với khách hàng hoặc thoả mãn sở thích cá nhân v.
Thuộc tính tồn tại lâu dài Hàng hoá gì cũng hư hỏng và có lúc hết giá trị sử dụng riêng BĐS thì không. Việc sinh lãi của BĐS có thể thay đổi theo từng giai đoạn, nhưng bản thân đất đai thì tồn tại vĩnh viễn. Các công trình xây dựng trên nó, như nhà ở, cửa hàng…, nếu bảo trì tốt có thể sử dụng hàng trăm năm, thậm chí có căn nhà tồn tại vài thế kỷ. Do đó, trừ nhà ở, còn các BĐS sinh lợi (nhà cho thuê, cửa hàng…) thì gần như có thể tiếp tục sinh lợi lâu dài.
Không có một tư liệu hay công cụ sản xuất nào có thể sinh lợi lâu dài như vậy. Do đất đai là tài sản được xem như không thể bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lấp. Đồng thời, các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi 5 xây dựng hoặc sau một thời gian sử dụng được cải tạo nâng cấp có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Vì vậy, tính bền lâu của BĐS là chỉ tuổi thọ của vật kiến trúc và công trình xây dựng.
Thuộc tính hỗ tương với xung quanh Điều này được tất cả mọi người biết rõ, bởi ai cũng hiểu rằng giá trị của một miếng đất hay căn nhà bị ảnh hưởng rất nhiều từ những miếng đất hay căn nhà xung quanh. Một khu nhà đẹp nằm gần một mảnh đất sắp xây dựng nhà máy xem như bị giảm giá trị. Một cao ốc đẹp với nhà áp mái lộng lẫy nhưng nhìn xuống một khu ổ chuột lụp sụp thì cũng chẳng còn được đánh giá cao. Cho nên, cảnh quan và cơ sở hạ tầng kết nối xung quanh một BĐS tạo ra giá trị cho nó lớn hơn bản thân nó được tạo ra.