Chương 1. Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải. Thực trạng hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.
7 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THANH TRA CHUYÊN NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI 1. Vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải đƣờng bộ 1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải Để phân tích vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải, trước hết cần khái quát về pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải để khi giải quyết những vấn đề cụ thể không phải quay lại xem xét những vấn đề chung. Vì vậy, trong phần này bên cạnh việc tập trung phân tích các yếu tố các dấu hiệu vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải, luận văn khái quát về pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải.
Trong khoa học pháp lý, pháp luật là những quy tắc hành vi, quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành, thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất, được chia thành các ngành luật, mỗi ngành lập là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực pháp luật, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng. Mỗi ngành luật được chia thành các chế định, mỗi chế định pháp luật là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội gần gũi nhau, cùng tính chất. Chế định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là một chế định pháp luật thuộc ngành luật hành chính, là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về hành vi vi phạm hành chính, các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong xử lý vi phạm hành chính, trình tự thủ tục áp dụng các biện 8 z pháp xử lý vi phạm hành chính.
Do tính đặc thù của quản lý hành chính nhà nước, sự đa dạng, phức tạp của vi phạm hành chính, nên trong mọi lĩnh vực của quản lý hành chính nhà nước đều có những hành vi vi phạm quy tắc quản lý hành chính nhà nước. Vì vậy, chế định xử lý vi phạm hành chính là một chế định rất lớn, bao gồm nhiều những “chế định” nhỏ, hay “tiểu chế định”, trong đó có “chế định” xử lý vi phạm hành chính [12, tr. Từ đây có thể suy ra pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là tập hợp các quy phạm pháp luật quy định những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải, các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền của các cơ quan, cá nhân trong xử lý vi phạm hành chính, thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải. Trong đó thanh tra giao thông chuyên ngành chỉ là một chủ thể có quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải.
Các quy định đó được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật, trước hết là Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, các Nghị định của Chính phủ quy định về vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải như Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ, Nghị định số 71/2012/NĐ-CP, Nghị định số 60/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa,. Thông tư hướng dẫn Nghị định của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, điển hình như Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BGTVT-BCA ngày 17/9/2012 của liên Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an hướng dẫn Nghị định số 60/2011/NĐ-CP, Thông tư 11/2013/TT-BCA ngày 01/3/2013 của Bộ Công an hướng dẫn Nghị định số 34/2010/NĐ-CP và 71/2012/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Theo Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính, vi phạm hành chính là 9 z hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính. Trên cơ sở quy định này có thể thấy các dấu hiệu, các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải bao gồm: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.
- Dấu hiệu về mặt khách quan Dấu hiệu bắt buộc về mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là sự biểu hiện bên ngoài của hành vi, đó là hành vi vi phạm hành chính do pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải quy định. Như vậy, khi xem xét để đi đến kết luận rằng hành vi của cá nhân hay tổ chức có phải là vi phạm hành chính hay không, thì chúng ta phải có những căn cứ pháp lý xác định hành vi đó và phải được pháp luật về lĩnh vực giao thông vận tải quy định là hành vi vi phạm hành chính; đồng thời, hành vi đó phải bị ngăn chặn, xử phạt bằng các biện pháp hành chính được pháp luật về lĩnh vực giao thông vận tải quy định. Cần tránh tình trạng áp dụng “tương tự pháp luật” trong việc xác định vi phạm hành chính đối với tổ chức và cá nhân. Đối với một số loại vi phạm hành chính thì dấu hiệu về mặt khách quan của nó còn có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác.
Những yếu tố khác có thể là: (i) Thời gian thực hiện hành vi vi phạm; (ii) Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm; (iii) Công cụ, phương tiện vi phạm; (iv) Hậu quả và mối quan hệ nhân quả. - Dấu hiệu về mặt chủ quan Dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là hành vi có lỗi thể hiện dưới dạng lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của tổ chức, cỏ nhân. Người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của 10 z mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được điều đó hoặc nhận thức được nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi vi phạm hành chính.
Ngược lại, nếu chủ thể thực hiện hành vi đó khi không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì hành vi do họ thực hiện không phải là vi phạm hành chính. Ngoài yếu tố lỗi là dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải thì trong một số vi phạm hành chính cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc. Vì thế khi xử phạt hành chính cá nhân, tổ chức về vi phạm hành chính này cần xác định rõ hành vi của họ có thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu mục đích hay không, ngoài việc xem xét các dấu hiệu khác. Khi xác định dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính về lĩnh vực giao thông vận tải, thì dấu hiệu lỗi trong vi phạm hành chính của tổ chức là vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng, lỗi là trạng thái tâm lý của cá nhân trong khi thực hiện hành vi hành chính nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với tổ chức vi phạm hành chính. Khi xử phạt vi hành chính đối với tổ chức chỉ cần xác định tổ chức đó có hành vi trái pháp luật và hành vi đó theo quy định của pháp luật bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là đủ điều kiện để xử phạt hành chính. Ngược lại, có quan điểm khác cho rằng, cần xác định lỗi của tổ chức khi vi phạm hành chính thì mới có đầy đủ cơ sở để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức vi phạm. Theo quan điểm này, lỗi của tổ chức được xác định bằng lỗi của các thành viên trong tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được tổ chức đó giao cho.
Đồng thời, tổ chức phải có trách nhiệm xác định lỗi của người thuộc tổ chức mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khi thi hành công vụ được giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành 11 z chính hiện hành chỉ quy định chung rằng tổ chức phải chịu trạch nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình dây ra và có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. - Dấu hiệu về chủ thể Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là các tổ chức, cá nhân có năng lực chủ thể. Theo quy định của pháp luật về giao thông vận tải hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính là người không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là: (i) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể là chủ thể của vi phạm hành chính với lỗi cố ý.
Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính hay không, cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ. (ii) Người đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi trường hợp. (iii) Tổ chức có thể là chủ thể vi phạm hành chính, bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.