CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE BẢO HIẾM THAT NGHIỆP 1. Thất nghiệp ở đô thị 1. Khái niệm về Thất nghiệp J.
Keynes được coi nhà “người bảo hộ thất nghiệp” bởi ông là một trong số ít những nhà kinh tế học nồi tiếng nghiên cứu thành công về đề tài thất nghiệp đầu tiên. Ông cho rằng: “Vấn đề thất nghiệp không phải là hiện tượng độc lập của nền kinh tế mà đó là kết quả của các quy luật nhất định dé đạt được sự cân bằng của hệ thống kinh tế”. Theo ông, “nạn thất nghiệp tồn tại dưới dạng bắt buộc mà trong đó tổng cung về lao động của những NLD muốn làm việc với tiền lương danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có”. Samuelson - một trong số khác các nhà kinh tế nổi tiếng đã đưa ra lý luận riêng của mình về van đề thất nghiệp: “Đó là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất.
Và trong nên kinh tế thi trường, luôn luôn tồn tại một bộ phan NLD bị that nghiép. Ty lệ that nghiệp cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào kha năng giải quyết việc làm của Chính Phủ và sự đấu tranh của giới thợ đối với giới chủ”. Tại Điều 20 Công ước số 102 (1952) của tô chức lao động Quốc tế (ILO) về Quy phạm tối thiêu về an toàn xã hội định nghĩa: “Thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một công việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sảng làm việc”, theo định nghĩa này dé xac dinh tinh trang that nghiép cần hai điều kiện “có khả năng làm việc” và “sẵn sàng làm việc”; sau đó Công ước số 168 (1988) bổ sung thêm vào định nghĩa này khái niệm “tích cực tìm kiếm việc làm”. Một định nghĩa khác được đưa ra trong hội nghị Quốc tế về thống kê lao động lần thứ XIII tại Genéve năm 1982 như sau: “Thất nghiệp bao gồm toàn bộ số người ở độ tuôi quy định trong thời gian điều tra có kha năng làm việc, không có việc làm và đang đi tìm kiếm việc làm”.
Ở Pháp, khái niệm này lại khá đơn giản là: “Thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang di tìm việc làm”. Tại Thái Lan, “thất nghiệp” được khăng định là: “Thất nghiệp là không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc”. Còn tại Trung Quốc người ta cho rằng: “Thất nghiệp là người trong tuôi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm đang di tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm”. Các định nghĩa trên tuy có đôi chút khác nhau về phạm vi, mức độ, giới han do đặc điểm điều kiện về kinh tế xã hội mỗi nước khác nhau nhưng đều thong nhat chung ở 3 điểm đặc trưng phải có ở người that nghiệp đó là: (1) Người có khả năng lao động; (2) đang trong tình trạng không có việc làm; và (3) đang tìm công việc cho bản thân.
Tại Việt Nam, thất nghiệp chỉ mới nảy sinh do sự chuyên đôi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường. Trải qua hơn 10 năm hình thành và phát triển, các văn bản quy định về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thất nghiệp cơ bản đã được hình thành và triển khai, nhưng những công trình nghiên cứu nhất định về thất nghiệp thì chưa thực sự sâu sát. Những nghiên cứu bước đầu khăng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc. Định nghĩa về thất nghiệp ở Việt Nam được đưa ra như sau: “That nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cau việc làm, đang không có việc làm).
Nguyên nhân gây ra tình trạng thất nghiệp ở đô thị Thất nghiệp xuất hiện như một lẽ tat yéu của nền kinh tế và cũng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra. Thất nghiệp có thể diễn ra ở mọi nền kinh tế, mọi điều kiện kinh tế, và vì vậy, thất nghiệp ở đô thị là điều không thê tránh khỏi. Tuy nhiên có 3 nguyên nhân chính khiến cho diễn ra thất nghiệp ở đô thị mà các nhà chính sách cần lưu ý, đó là: Thứ nhất, do sự thay đôi của chu kỳ sản xuất kinh doanh Chu kỳ kinh tế theo 3 giai đoạn: suy thoái - phục hồi - hưng thịnh. Theo chu kỳ phát triển kinh tế (suy thoái, phục hồi và hưng thịnh).
Trong thời kỳ hưng thịnh, toàn bộ nguồn nhân lực được tập trung trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ do đó cau lao động tăng trưởng nhanh hơn bao giờ hết. Ngược lại trong thời kỳ suy thoái sản xuất bị đình trệ khiến cho cầu lao động giảm, không những không làm tăng thêm nguồn lao động mà còn bị dư thừa lao động (do quá trình đào thải) gây ra hiện tượng thất nghiệp trên diện rộng. Các chuyên gia kinh tế tính toán, thất nghiệp sẽ tăng lên 2% nếu như năng suất sẽ giảm 1% so với khả năng. Thứ hai, do sự tiễn bộ của khoa học kỹ thuật Tự động hóa là một bước tiễn trong sự nghiệp khoa học kỹ thuật giúp làm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, năng suất lao động tăng.
Khi chi phi được giảm, doanh nghiệp có kha năng dé đầu tư vào chất lượng sản phẩm dé sản phẩm được tốt hơn khi đến tay người tiêu dùng và với giá thành rẻ hơn. Chất lượng tốt cùng với giá thành rẻ hơn là những điểm cộng làm khả năng cạnh tranh của sản 4 phẩm vượt trội hơn các sản phẩm khác. Chính vì vậy, các nhà sản xuất luôn nỗ lực tìm cách tối ưu và phát triển công nghệ, sử dụng những dây truyền tự động tân tiến vào sản xuất, thiết bị máy móc được sử dụng nhiều hơn thay thế cho lao động thủ công. Tuy nhiên, khi máy móc dan thay thé người lao động thì số lao động này bị dư thừa và do đó, thất nghiệp gia tăng.
Thứ ba, do áp lực về dân số gia tăng dân số và nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao Đây là áp lực lớn mà các cơ quan chính quyền phải tìm cách giải quyết tại đô thị. Ở nước đang phát triển như Việt Nam hay các nước kém phát triển có lợi thế về nguồn lao động giá rẻ đồi dao, nhân lực của chúng ta trong sản xuất là không thiếu song vì hạn chế tiềm lực về kinh tế, đặc điểm chung các quốc gia này là không sử dụng được triệt để chính nguồn nhân lực của mình, gây lãng phí hay chảy máu chất xám, không thé nâng cao đào tạo dé phát triển kinh tế được. Phân loại Thất nghiệp Dé phân loại thất nghiệp, người ta có thé sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau ví dụ như phân loại theo độ tuổi, giới tính, khu vực,. Các nhà chính sách cần phải phân chia một cách rõ ràng dé hiểu rõ về từng loại thất nghiệp, trên cơ sở đó mới có thê đưa ra các chính sách phù hợp đề giải quyết tình trạng thất nghiệp.
a, Phân theo đặc trưng của người thất nghiệp. Mỗi người đều có những đặc điểm riêng của mình dé phân biệt với những người khác. Người thất nghiệp cũng có những đặc trưng riêng với những mức độ ảnh hưởng đến kinh tế khác nhau. Nhìn chung, sẽ có 5 đặc trưng chính dé phan loại thất nghiệp đó là: Thất nghiệp theo giới tính: Người thất nghiệp là nam hay nữ.
Ở mối giới sẽ có sự đánh giá khác nhau về tình trạng thất nghiệp. Theo nghiên cứu, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở nam nhiều hơn nữ giới nhưng cũng vì vậy mà tỷ lệ nam giới thất nghiệp lại cao hơn nữ giới. That nghiệp theo lứa tuôi: Từ độ tuổi chính thức tham gia lực lượng đến khi NLD nghỉ hưu, ở bat cứ độ tuổi nào cũng có thể diễn ra tình trạng thất nghiệp. Vì vậy, việc phân chia thất nghiệp theo lứa tuổi sẽ đem đến cái nhìn tổng quan cho các nhà chính sách về độ tuổi thường xảy ra tình trạng thất nghiệp dé tìm hiểu nguyên nhân và có giải pháp khắc phục vấn đề đó.
Thất nghiệp theo vùng, lãnh thd: Theo các nghiên cứu, khu vực có lực lượng lao động càng cao càng dé xảy ra tình trạng thất nghiệp do đòi hỏi càng cao của xã hội khu vực đó. Thất nghiệp ở vùng núi, vùng biển, vùng hải đảo, vùng khó khăn thường rất ít mà hầu hết tập trung tại các đô thị, những trung tâm văn hóa chính trị lớn. Thất nghiệp theo ngành nghề: Có những ngành nghề đặc trưng đòi hỏi rat ít lao động hoặc chỉ cần lao động trình độ không cao, nhưng cũng có những ngành nghề đòi hỏi người lao động phải có chuyên môn sâu, kỹ năng tay nghề cao hoặc có những ngành nghề chỉ theo mùa, theo vụ, theo điều kiện tự nhiên do đó tình trang thất nghiệp ở những ngành nghề khác nhau cũng diễn biến khác nhau. Thất nghiệp theo dân tộc, chủng tộc: Tình trạng này xuất hiện chủ yếu ở các quốc gia vẫn còn tư tưởng phân biệt chủng tộc, đặc biệt là ở một vải quốc gia 0 Châu Mỹ và Châu Âu.
Những người da đen thường phải làm những công việc nặng nhọc, vat vả trong khi người da trắng được làm trong điều kiện, môi trường tốt dẫn đến sự bất bình đăng trong nghề nghiệp. b, Phân loại theo nguyên nhân thất nghiệp. Trong định nghĩa về thất nghiệp, không có sự phân biệt về thất nghiệp tự nguyện và không tự nguyện. Nói cách khác khi phân loại thất nghiệp cần phải phân biệt NLD chủ động xin thôi việc hay NLD bị động, bắt buộc phải nghỉ việc.
Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, NLD sẽ được trả tiền công ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào nhóm, ngành, công ty hay công việc mà NLD đang làm việc. NLD có thé quyết định việc đi làm hay nghỉ việc của mình nên NLD sẽ có sự cân nhắc về mức lương, về môi trường làm việc, về đồng nghiệp dé đưa ra sự lựa chọn nơi làm việc của mình. Do đó dẫn đến 2 tình trạng: Thất nghiệp tự nguyện: “Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nao đó NLD không muốn làm việc hoặc vi lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con. Thất nghiệp loại này thường là tạm thời”.