Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được thiết lập nhằm bảo vệ người lao động (NLĐ) trước các rủi ro mất việc làm, hỗ trợ duy trì đời sống và thúc đẩy cơ hội tái hòa nhập thị trường lao động. Tại Việt Nam, sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thị trường lao động ghi nhận nhiều biến động sâu sắc. Chính sách BHTN chính thức được thi hành từ ngày 01/01/2009 và triển khai trên thực tế từ ngày 01/01/2010 theo các quy định pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội.
Trong giai đoạn 2019–2020, kinh tế toàn cầu và Việt Nam chịu tác động tiêu cực từ đại dịch Covid-19, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp gặp khủng hoảng tài chính, đình đốn sản xuất, giải thể hoặc phá sản. Hệ quả là số lượng lao động bị mất việc, thiếu việc làm tăng đột biến. Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế lớn của cả nước với quy mô dân số và lực lượng lao động tập trung cao, khiến công tác tổ chức, quản lý và thực thi chính sách BHTN đối mặt với nhiều áp lực và thách thức lớn.
Đề tài chuyên đề tốt nghiệp "Nâng cao công tác bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội" được tác giả Nguyễn Thị Như Quỳnh thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các khái niệm, nội dung và kinh nghiệm quốc tế về thất nghiệp và chính sách BHTN.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng triển khai chính sách BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2018–2020; nhận diện những kết quả đạt được, các hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân.
- Đề xuất định hướng cùng các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả công tác BHTN tại Hà Nội trong giai đoạn tiếp theo.
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận chung về thất nghiệp và việc triển khai thực hiện chế độ BHTN.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội, trọng tâm là hoạt động nghiệp vụ tại Phòng Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Trung tâm Dịch vụ Giới thiệu Việc làm Hà Nội (nay là Trung tâm Dịch vụ Việc làm Hà Nội).
- Thời gian: Tập trung thu thập số liệu và đánh giá thực trạng trong giai đoạn từ năm 2018 đến hết năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế học vĩ mô, an sinh xã hội và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam và quốc tế:
-
Khung lý thuyết về thất nghiệp:
- Quan điểm của J. Keynes về thất nghiệp bắt buộc và trạng thái cân bằng của hệ thống kinh tế khi tổng cung lao động vượt quá khối lượng việc làm hiện có.
- Quan điểm của P. Samuelson về sự tách rời của người có năng lực lao động khỏi tư liệu sản xuất trong nền kinh tế thị trường.
- Định nghĩa thất nghiệp theo Công ước số 102 (1952) và Công ước số 168 (1988) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), định nghĩa tại Hội nghị Quốc tế về Thống kê Lao động lần thứ XIII (Genève, 1982), cùng các chuẩn mực pháp lý về lao động tại Việt Nam.
- Mối quan hệ kinh tế vĩ mô: Tác động ngược chiều giữa tỷ lệ thất nghiệp và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát thông qua Đường cong Phillips (dốc xuống trong ngắn hạn và thẳng đứng tại mức thất nghiệp tự nhiên trong dài hạn); cơ chế vận hành của BHTN như một "bộ giảm sốc tự động" đối với tổng cầu.
-
Khung pháp lý tham chiếu:
- Luật Việc làm số 38/2013/QH13 (đặc biệt là Chương VI quy định về BHTN: nguyên tắc, đối tượng tham gia, các chế độ hỗ trợ, quỹ BHTN, điều kiện và mức hưởng).
- Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25/12/2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP về BHTN.
- Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ.
-
Kinh nghiệm quốc tế: Tổng quan mô hình BHTN tại Đức (thiết lập từ 1919/1927), Hoa Kỳ (Đạo luật An sinh Xã hội năm 1935 với cơ chế quỹ liên bang và tiểu bang), và Chile (cải cách BHTN theo mô hình tài khoản tiết kiệm cá nhân áp dụng từ tháng 10/2020).
-
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam, Cục Việc làm (Bộ LĐ-TB&XH), Tổng cục Thống kê và Trung tâm Dịch vụ Giới thiệu Việc làm Hà Nội.
- Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh số liệu qua các năm.
- Phương pháp phân tích thể chế, tổng kết thực tiễn để đánh giá quy trình thực thi và kẽ hở pháp lý.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm thất nghiệp
Chương 1 làm rõ các nội dung tảng nền về thất nghiệp đô thị và chính sách BHTN:
- Nguyên nhân thất nghiệp đô thị: Phân tích ba nhóm nguyên nhân cốt lõi gồm: sự biến động của chu kỳ sản xuất kinh doanh (suy thoái - phục hồi - hưng thịnh); sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật (tự động hóa thay thế lao động thủ công); và áp lực gia tăng dân số đô thị cùng nhu cầu nhân lực chất lượng cao.
- Phân loại thất nghiệp:
- Theo đặc trưng người thất nghiệp: Giới tính, lứa tuổi, vùng/lãnh thổ, ngành nghề, chủng tộc.
- Theo nguyên nhân: Thất nghiệp tự nguyện, thất nghiệp không tự nguyện, thất nghiệp trá hình (khiếm dụng lao động).
- Theo nguồn gốc: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu (thất nghiệp công nghệ), thất nghiệp do cầu kéo (thất nghiệp chu kỳ), thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường (tiền lương ấn định cao hơn mức cân bằng).
- Quy định pháp lý về BHTN tại Việt Nam (theo Luật Việc làm 2013):
- Đối tượng bắt buộc: NLĐ làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn, xác định thời hạn, hoặc hợp đồng mùa vụ/công việc nhất định từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
- Bốn chế độ BHTN: Trợ cấp thất nghiệp; Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; Hỗ trợ học nghề; Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm.
- Cơ chế đóng Quỹ BHTN: NLĐ đóng 1% tiền lương tháng; NSDLĐ đóng 1% quỹ tiền lương tháng; Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng từ ngân sách trung ương.
- Mức và thời gian hưởng: Mức hưởng hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp (tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở hoặc lương tối thiểu vùng). Thời gian hưởng tính theo thời gian đóng: đóng đủ 12 đến 36 tháng được hưởng 03 tháng, sau đó cứ đóng đủ thêm 12 tháng được hưởng thêm 01 tháng (tối đa không quá 12 tháng).
- Kinh nghiệm quốc tế:
- Đức: BHTN bắt buộc, mức hưởng 60% lương thực tế sau thuế (hoặc 67% nếu có con), đình chỉ hưởng 12 tuần nếu vi phạm hợp đồng hoặc từ chối công việc/khóa đào tạo được giới thiệu.
- Hoa Kỳ: Quỹ bảo hiểm liên bang kết hợp luật bồi thường BHTN của từng tiểu bang; nguồn tài chính trích từ thuế.
- Chile: Áp dụng tài khoản cá nhân (NLĐ đóng 0,6%, NSDLĐ đóng 2,4% gồm 1,6% vào tài khoản riêng và 0,8% vào tài khoản chung). NLĐ rút tiền khi mất việc hoặc về hưu, thời gian chờ 1 tháng, thời gian hưởng tối đa 5 tháng với mức hưởng giảm dần từ 50% xuống 30%.
Chương 2: Thực trạng triển khai BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 2 phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và số liệu thực thi BHTN trên địa bàn Hà Nội:
- Đặc điểm kinh tế - xã hội Hà Nội: Diện tích 3.328,9 km², dân số thực tế tính đến hết năm 2020 khoảng 10 triệu người (mật độ 2.398 người/km²), gồm 10 quận, 1 thị xã, 18 huyện và 577 đơn vị cấp xã. GRDP năm 2019 đạt 971.700 tỷ đồng (~41,85 tỷ USD), tăng trưởng 7,62%. Năm 2020, quy mô GRDP đạt 1.016 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 3,98% (theo giá so sánh tăng khoảng 3,94%).
- Kết quả triển khai BHTN:
- Quy mô tham gia: Tính đến hết năm 2020, toàn thành phố có hơn 1,7 triệu người tham gia BHTN (tăng 5,6% so với năm 2019).
- Quản lý quỹ: Quỹ BHTN toàn quốc duy trì kết dư an toàn (năm 2017 đạt 67.320 tỷ đồng; năm 2018 đạt 79.073 tỷ đồng; năm 2019 đạt 84.000 tỷ đồng; năm 2020 tiếp tục đảm bảo an toàn).
- Công tác giải quyết chế độ tại Hà Nội (hết ngày 31/12/2020): Số người được tư vấn, giới thiệu việc làm đạt 58.142 người; số người có quyết định học nghề đạt 2.668 người; số người nộp hồ sơ đăng ký hưởng BHTN năm 2020 là 83.316 người (tăng mạnh so với 69.490 người năm 2019).
- Những hạn chế và nguyên nhân:
- Tồn tại pháp lý: Chưa bao phủ lao động tại doanh nghiệp dưới 10 người hoặc hợp đồng dưới 12 tháng (nhóm có nguy cơ mất việc cao); thời gian đào tạo nghề ngắn và mức hỗ trợ học nghề còn thấp.
- Bất cập về thủ tục và chốt sổ BHXH: Quy định trong vòng 7 ngày kể từ khi mất việc phải đăng ký và 15 ngày sau đó phải nộp đủ hồ sơ là quá ngắn; tình trạng doanh nghiệp nợ đọng, trốn đóng BHXH, phá sản hoặc chủ bỏ trốn khiến NLĐ không chốt được sổ, dẫn đến mất quyền lợi.
- Quy trình chi trả nhiều tầng nấc: Quyết định do Giám đốc Sở LĐ-TB&XH ký, chuyển qua Trung tâm GTVL đến cơ quan BHXH thành phố, sau đó phân bổ danh sách về BHXH huyện và xã để chi trả, làm kéo dài thời gian nhận trợ cấp.
- Hiện tượng trục lợi và thất nghiệp "ảo": Tồn tại kẽ hở khi NLĐ và NSDLĐ thỏa thuận cho nghỉ việc giả tạo để NLĐ hưởng 3 tháng trợ cấp (60% lương) rồi quay lại làm việc, giúp doanh nghiệp trốn đóng BHXH và NLĐ hưởng lợi bất chính.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao công tác BHTN trên địa bàn Hà Nội
Chương 3 đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách:
- Định hướng chiến lược: Khai thác vai trò BHTN như một công cụ điều tiết thị trường lao động và bộ giảm sốc tự động; tăng cường công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm thay vì chỉ tập trung chi trả trợ cấp thụ động.
- Các nhóm giải pháp đề xuất:
- Hoàn thiện cơ chế chính sách: Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia BHTN cho lao động nước ngoài, người không quốc tịch làm việc hợp pháp tại Việt Nam và lao động nông nghiệp (thông qua tổ chức doanh nghiệp nông nghiệp); nới lỏng điều kiện thời gian đóng dưới 12 tháng trong vòng 24 tháng trước khi mất việc để được tính trợ cấp; nghiên cứu mô hình tài khoản danh nghĩa cá nhân (chuyển phần tích lũy sang lương hưu nếu không dùng hết).
- Đẩy mạnh tuyên truyền và minh bạch hóa: Công khai căn cứ tính toán mức đóng - hưởng dựa trên tiền lương thực tế; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của NLĐ và người sử dụng lao động.
- Tăng cường phối hợp và thanh tra: Phối hợp chặt chẽ giữa Sở LĐ-TB&XH, cơ quan BHXH và Trung tâm Dịch vụ Việc làm; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc đóng BHTN và chốt sổ đúng hạn tại doanh nghiệp.
- Xử lý nghiêm hành vi trục lợi: Thiết lập chế tài đồng bộ, minh bạch để xử lý triệt để các hành vi cấu kết tạo hồ sơ thất nghiệp ảo để trục lợi quỹ.
- Phát triển nhân lực và ứng dụng công nghệ thông tin: Chuẩn hóa trình độ cán bộ nghiệp vụ BHTN; đẩy mạnh tin học hóa quy trình quản lý dữ liệu, xử lý hồ sơ trên nền tảng CNTT với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Văn phòng ILO tại Hà Nội.
Kết quả và đóng góp
| Chỉ tiêu / Nội dung |
Số liệu / Thực trạng ghi nhận |
| Số người tham gia BHTN tại Hà Nội (2020) |
Hơn 1,7 triệu người (tăng 5,6% so với năm 2019) |
| Số người nộp hồ sơ hưởng BHTN tại Hà Nội (2020) |
83.316 người (năm 2019 là 69.490 người) |
| Số người được tư vấn, giới thiệu việc làm (2020) |
58.142 người |
| Số người có quyết định học nghề tại Hà Nội (2020) |
2.668 người |
| Kết dư Quỹ BHTN toàn quốc năm 2017 |
67.320 tỷ đồng (tăng 9.038 tỷ đồng so với 2016) |
| Kết dư Quỹ BHTN toàn quốc năm 2018 |
79.073 tỷ đồng |
| Kết dư Quỹ BHTN toàn quốc năm 2019 |
84.000 tỷ đồng |
| GRDP TP. Hà Nội năm 2019 / 2020 |
971.700 tỷ đồng (tăng 7,62%) / 1.016 nghìn tỷ đồng (tăng 3,98%) |
Nghiên cứu đóng góp cái nhìn toàn diện về mặt thực tiễn thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn đô thị lớn trong giai đoạn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19; chỉ ra cụ thể các kẽ hở vận hành (như vấn đề thất nghiệp ảo, ách tắc chốt sổ BHXH, quy trình luân chuyển hồ sơ đa tầng); đồng thời đúc kết bài học từ mô hình tài khoản cá nhân của Chile và hệ thống BHTN của Đức để đề xuất áp dụng vào bối cảnh thể chế Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo hành chính của Trung tâm Dịch vụ Giới thiệu Việc làm Hà Nội, BHXH Việt Nam và Tổng cục Thống kê đến thời điểm tháng 04/2021; chưa triển khai khảo sát sơ cấp quy mô lớn về mức độ hài lòng hoặc hành vi của NLĐ và chủ doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Phân tích định lượng tác động trung và dài hạn của đại dịch Covid-19 đến cân đối thu - chi Quỹ BHTN; đánh giá hiệu quả thực tế của chính sách hỗ trợ học nghề và tỷ lệ quay lại thị trường lao động chính thức của người hưởng BHTN sau đào tạo.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên các chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Đô thị, Quản lý Công, Bảo hiểm Xã hội, Kinh tế Lao động và Luật Lao động.
- Cán bộ quản lý và chuyên viên nghiệp vụ tại các Trung tâm Dịch vụ Việc làm, cơ quan Bảo hiểm Xã hội và Sở LĐ-TB&XH trong việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình tiếp nhận hồ sơ, thanh tra đóng nộp và phòng chống trục lợi chính sách.
- Người nghiên cứu các đề tài về an sinh xã hội đô thị và các cơ chế giảm sốc vĩ mô của thị trường lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Mức đóng và mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Việt Nam được pháp luật quy định như thế nào?
Theo Luật Việc làm 2013, mức đóng BHTN gồm NLĐ đóng 1% tiền lương tháng, NSDLĐ đóng 1% quỹ tiền lương tháng và Nhà nước hỗ trợ tối đa 1%. Mức hưởng trợ cấp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp, tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở hoặc mức lương tối thiểu vùng. Thời gian hưởng từ 03 tháng đến tối đa 12 tháng tùy thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm.
2. Số lượng người tham gia và nộp hồ sơ hưởng BHTN tại Hà Nội năm 2020 biến động ra sao?
Đến hết năm 2020, Hà Nội có hơn 1,7 triệu người tham gia BHTN (tăng 5,6% so với 2019). Số lượng người đến nộp hồ sơ đăng ký hưởng BHTN tăng đột biến từ 69.490 người năm 2019 lên 83.316 người năm 2020 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và dịch bệnh Covid-19.
3. Nghiên cứu chỉ ra những lỗ hổng nào dẫn đến tình trạng trục lợi và "thất nghiệp ảo"?
Do mức đóng BHTN tương đối thấp trong khi mức hưởng là 60% lương cho tối thiểu 3 tháng trợ cấp, một số doanh nghiệp và NLĐ đã cấu kết làm thủ tục chấm dứt hợp đồng giả tạo để NLĐ rút tiền trợ cấp thất nghiệp và doanh nghiệp trốn đóng BHXH, trong khi thực tế NLĐ vẫn tiếp tục đi làm và hưởng lương bình thường.
4. Mô hình BHTN tại Chile có điểm gì đặc trưng được tác giả đề xuất nghiên cứu vận dụng?
Chile áp dụng cơ chế tài khoản đầu tư cá nhân bắt buộc (NLĐ đóng 0,6%, NSDLĐ đóng 2,4% vào tài khoản riêng và tài khoản chung). Khoản tiền này sinh lời và thuộc quyền sở hữu của NLĐ; nếu không thất nghiệp, số tiền còn lại sẽ được hoàn trả khi về hưu dưới dạng tiền tiết kiệm, qua đó giảm thiểu tâm lý ỷ lại và tình trạng gian lận chính sách.
5. Bất cập lớn nhất trong khâu chốt sổ BHXH và thời hạn nộp hồ sơ BHTN là gì?
Quy định NLĐ phải đăng ký trong vòng 7 ngày và nộp đủ hồ sơ trong vòng 15 ngày tiếp theo tạo áp lực lớn về thời gian. Khi doanh nghiệp nợ đọng tiền bảo hiểm, cố tình chậm trễ, giải thể hoặc chủ bỏ trốn, sổ BHXH không được chốt kịp thời khiến hồ sơ của NLĐ bị quá hạn và mất quyền hưởng trợ cấp.
Kết luận
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Như Quỳnh đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng triển khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2018–2020. Nghiên cứu chỉ rõ những kết quả đạt được về diện bao phủ và an toàn quỹ, đồng thời nhận diện sâu sắc các bất cập trong quy trình thủ tục, tình trạng thất nghiệp ảo và kẽ hở pháp lý đối với nhóm lao động yếu thế. Các nhóm giải pháp đề xuất về hoàn thiện thể chế, ứng dụng công nghệ thông tin và học tập kinh nghiệm tài khoản cá nhân quốc tế mang tính thiết thực, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý an sinh xã hội tại đô thị.