Chương I: Căn cứ xây dựng đề án chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại. Chương II: Nội dung về chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại Hội sở Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Nam Định. Chương III: Một số kiến nghị để nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại Hội sở Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Bắc Nam Định. 4 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng khách hàng Doanh nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại “Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2024: Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay.” “Theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Vai trò hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại * Đối với nền kinh tế: “Hoạt động cho vay của NHTM đáp ứng nhu cầu luân chuyển về vốn, làm trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế.
Hoạt động cho vay đã giúp dòng vốn lưu thông, chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Nhu cầu về vốn không chỉ đáp ứng cho sản xuất kinh doanh mà còn cho cả tiêu dùng. Người có vốn và người cần vốn qua trung gian là ngân hàng đã luân chuyển vốn từ người gửi tiết kiệm sang người sử dụng vốn có ý nghĩa rất lớn trong thúc đẩy kinh tế phát triển. Hoạt động cho vay của NHTM giúp phân bổ nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình SXKD được thực hiện bình thường, liên tục và phát triển góp phần đẩy nhanh quá trình mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất có hiệu quả.
Thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng đầu tư vào ngành nghề, khu vực, vùng kinh tế trọng điểm thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và có cơ cấu điều 5 tiết hợp lý. Hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát dòng tiền và mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập và các khoản thu ủy thác đầu tư của nhà nước. Hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần thực hiện chính sách nông nghiệp nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo đảm bảo ổn định chính trị, xã hội.” * Đối với khách hàng: “Hoạt động cho vay của NHTM đáp ứng kịp thời đáp ứng nhu cầu về số lượng, chất lượng vốn cho khách hàng. Với các ưu điểm của sản phẩm an toàn, nhanh chóng, dễ tiếp cận và khả năng đáp ứng vốn lớn, hoạt động cho vay của ngân hàng có khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng, giúp nhà đầu tư nắm bắt được cơ hội kinh doanh, mở rộng sản xuất, cá nhân tăng chi tiêu nâng cao đời sống.
Hoạt động cho vay của ngân hàng với sự ràng buộc trong sử dụng vốn có hoàn trả gốc và lãi đã kích thích tư duy khả năng, sự năng động, nhạy bén trong hoạt động của khách hàng để sử dụng vốn vay có hiệu quả.” * Đối với ngân hàng: “Cho vay là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng (từ 70 - 90%) và mặc dù tỷ trọng của hoạt động cho vay đang có xu hướng giảm, nhưng vẫn là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất trong hoạt động NHTM. Thông qua cho vay, ngân hàng phát triển các sản phẩm dịch vụ khác như thanh toán trong nước và quốc tế, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn, bảo hiểm,… và đa dạng hóa danh mục tài sản có sinh lời. Phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Phân loại theo thời hạn cho vay: Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm. Hình thức cho vay này chủ yếu nhằm hỗ trợ, bù đắp nhu cầu vốn thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp.
Cho vay ngắn hạn thường có tính thanh khoản nhanh, ít gặp rủi ro hơn cho vay trung, dài hạn, vì vậy, lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung, dài hạn. 6 Cho vay trung và dài hạn: Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm; cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm. Cho vay trung, dài hạn chủ yếu đầu tư vào các dự án có thời gian hoàn vốn tương đối dài của doanh nghiệp. Hình thức cho vay này thường chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu dư nợ của NHTM do tính chất không thường xuyên, tính chất phức tạp và mức độ rủi ro của các khoản vay, tuy nhiên hiệu quả mang lại tương đối lớn.
Phân loại theo hình thức bảo đảm của khoản vay: Theo quy định hiện hành của NHNN “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận. Việc thỏa thuận về biện pháp bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng với khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm và pháp luật có liên quan”. Như vậy, việc cho vay có hay không có bảo đảm bằng tài sản là quyền tự chủ của NHTM, do vậy, có thể phân loại theo hình thức bảo đảm thành 02 loại: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay mà NHTM quyết định cho vay một phần dựa trên cơ sở là tài sản bảo đảm tiền vay. Hình thức cho vay này nhằm gia tăng trách nhiệm của khách hàng vay và/hoặc bên bảo đảm tiền vay trong việc hoàn trả vốn vay đầy đủ, đúng thời hạn; là một trong những biện pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả, tạo hành lang pháp lý giúp NHTM có cơ sở trong việc xử lý nợ vay, đảm bảo khả năng thu hồi vốn.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay mà NHTM quyết định cho vay dựa trên uy tín của khách hàng vay mà không cần bảo đảm bằng tài sản. Hình thức cho vay này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, do vậy NHTM thường đưa ra các điều kiện đi kèm. Phân loại theo phương thức cho vay Theo quy định hiện hành của NHNN, hiện có 08 phương thức cho vay chủ yếu gồm: cho vay từng lần, cho vay hợp vốn, cho vay lưu vụ, cho vay theo hạn mức, cho vay theo hạn mức dự phòng, cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán, cho vay quay vòng, cho vay tuần hoàn. Một số phương thức cho vay đối với KHDN chủ yếu áp dụng tại NHTM như sau: 7 Cho vay từng lần: áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn từng lần hoặc không thường xuyên để thực hiện các mục đích khác nhau trong từng lần vay.
Việc cho vay theo hình thức này có thể thực hiện dưới hình thức cho vay ngắn hạn (để bổ sung vốn lưu động) hoặc cho vay trung, dài hạn (để thực hiện các dự án đầu tư). Do vậy, mỗi lần vay vốn khách hàng và NHTM thực hiện các thủ tục cho vay khác nhau, các bên thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm theo cam kết tại từng hợp đồng vay vốn cụ thể. Cho vay theo hạn mức: áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, ổn định và có uy tín đối với NHTM. Khi cho vay theo phương thức này, NHTM và khách hàng thoả thuận và xác định mức dư nợ tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong thời hạn của hạn mức, NHTM thực hiện cho khách hàng vay từng lần, tuy nhiên dư nợ ở mọi thời điểm không vượt quá hạn mức cho vay mà hai bên đã thỏa thuận. Một năm ít nhất một lần, NHTM và khách hàng thoả thuận để xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này. * Ngoài ra, có thể phân loại doanh nghiệp theo hình thức khác như: theo quy mô, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh. Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm doanh nghiệp Theo Khoản 10, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2020, “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Căn cứ vào khái niệm trên: Trước tiên,”Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập, được thành lập và hoạt động hợp pháp theo đúng quy định của Pháp luật Việt Nam và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình. Thứ hai, tùy theo mục đích thành lập mà mỗi doanh nghiệp có mục đích hoạt động khác nhau như sinh lợi hoặc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội. Các loại hình doanh nghiệp “Theo hình thức pháp lý “Căn cứ vào quy định của Luật Doanh nghiệp 2020,”các loại hình Doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay bao gồm các loại hình sau: 8 - Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) bao gồm: Công ty TNHH một thành viên và Công ty TNHH hai thành viên trở lên.
- Công ty cổ phần. - Doanh nghiệp tư nhân. - Công ty hợp danh.” Theo tính chất sở hữu tài sản Các loại hình doanh nghiệp bao gồm: - Doanh nghiệp nhà nước - Doanh nghiệp ngoài nhà nước - Doanh nghiệp FDI Theo quy mô: Theo tiêu thức quy mô tại nước ta hiện nay, các doanh nghiệp được phân làm bốn loại: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ. Theo ngành kinh tế - Các Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.