chương I có ghi: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản 11 tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lã i”, được bao hàm cả hai nội dung về tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ. Xuất phát từ cách hiểu truyền thống trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, bán buôn là hình thức mua bán hàng hóa thông qua các trung gian, đại lý, đê bán với khôi lượng lớn; Ngược lại, bán lẻ là hình thức bán hàng mà người bán trực tiếp bán cho người mua là người sử dụng, tiêu dùng với khối lượng nhỏ, lẻ. Khi áp dụng trong hoạt động tín dụng, hiện nay trên Thế giới có hai cách hiêu khác nhau về tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ như sau: Thứ nhất: Tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính (thị trường tiền tệ liên ngân hàng) hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính khác (các NHTM, quỹ, các tổ chức làm đại lý ủy thác), không tính đến quy mô giá trị các khoản vay. Trong khi đó, tín dụng bán lẻ bao gồm những khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng với các khoản cho vay có quy mô giá trị khác nhau.
Người vay cuối cùng ở đây không phân biệt quy mô lớn hay nhỏ, mà chủ yếu được xác định là người trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư, không thực hiện việc cho vay tiếp với các đối tượng khác. Thứ hai: Tín dụng bán buôn được hiểu tương tự hình thức thứ nhất, cộng thêm những khoản cho vay công ty, doanh nghiệp có giá trị lớn hơn một quy mô nào đó tùy theo quy định cụ thế của từng nước (ví dụ ở nước Anh những khoản cho vay có giá trị từ 50.000 bảng Anh trở lên được coi là khoản cho vay bán buôn). Tín dụng bán lẻ bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng là cá nhân, HGĐ, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong thực tế, những tiêu chí phân định giữa bán buôn, bán lẻ nêu trên chỉ là tương đối và không mang tính phổ biển đối với mọi quốc gia và các ngân hàng, thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như 12 mục đích quản lý ở từng nơi.
Theo một số chuyên gia kinh tế, tín dụng ngân hàng bán lẻ là việc cung ứng sản phẩm tín dụng của ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch. Theo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, cấp tín dụng bán lẻ là việc cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác. Trong đó, khách hàng bán lẻ là cá nhân (cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài), HGĐ có nhu cầu sử dụng sản phâm, dịch vụ của BIDV. Tóm lại, kết hợp các quan điểm trên cho thấy tín dụng bán lẻ là hình thức cung cấp trực tiếp các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh có quy mô nhỏ cho các khách hàng là cá nhân, HGĐ và các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu khía cạnh nhỏ hơn trong lĩnh vực tín dụng bán lẻ, đó là tín dụng dành cho nhóm các KHCN.2 Đ ặ c điểm củ a tín d ụ n g dành cho K H C N - Quy mô các khoản vay nhỏ, sổ lượng khách hàng tương đổi lớn. số lượng KHCN đông do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp. Khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng đế cải thiện và nâng cao mức sống. Tuy nhiên giá trị của các khoản vay thường nhỏ.
- Rủi ro thông tin bất cân xứng: rất khó xác định thông tin tài chính của các cá nhân và HGĐ một cách chính xác. Khi thẩm định cho vay thì thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản bảo đảm. Đối với KHCN, việc đánh giá nhân 13 thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Nguồn trả nợ chủ yếu của KHCN là từ thu nhập ổn định ở thời diêm hiện tại.
Do vậy, nêu người vay gặp vân đê về sức khoẻ, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả được nợ vay cho ngân hàng. - Tỷ trọng cho vay trung dài hạn đôi với tín dụng bán lẻ có xu hướng cao hon mức bình quân chung, do các nhu cầu cho vay trung dài hạn mua nhà ở, đất ở, mua sắm tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn, bên cạnh đó khách hàng vay thường không chủ động kê hoạch hóa về dòng tiền, các nhu cầu vay tiêu dùng thông thường có thời hạn trên 12 tháng. - Nhu cầu được cấp tín dụng bán lẻ của khách hàng chịu tác động mạnh và phụ thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế, tăng mạnh trong thời kì nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời cao. Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng, rất nhiều cá,nhân HGĐ hạn chế vay mượn tiêu dùng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhanh chóng thu hẹp sản xuất.
- Chi phí cho tín dụng bán lẻ lớn hơn mức bình quân chung, do các khoản vay nhỏ lẻ, lượng khách hàng lớn nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động lớn, nhu cầu sử dụng nguồn trung dài hạn cao nên chi phí vốh cao. - Tín dụng bán lẻ có khả năng phân tán rủi ro, do số lượng khách hàng lớn, các khoản vay có giá trị nhỏ.3 Vai trò của tín d ụ n g dành ch o K H C N a. V ai trò đối vói nền kin h tế - Góp phân đấy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, để các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cá nhân, HGĐ mở rộng sản xuất 14 hàng hóa, dịch vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm, nâng cao vai tro cua cac thanh phân kinh tê này trong nên kinh tê, đóng góp ngày càng tăng trong GDP. - Góp phân kích câu tiêu dùng: Với các sản phẩm cho vay mua nhà ở, ô tô, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt gia đình.phù họp với khả năng chi trả của khách hàng, các sản phẩm tín dụng tiêu dùng thông qua các loại thẻ nội địa và quốc tế, kích thích người dân tăng cường chi tiêu, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư gia tăng năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế.
- Góp phân đây lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi ở nhiều nơi: Kênh tín dụng bán lẻ được khai thông giúp KHCN, HGĐ, doanh nghiệp nhỏ.dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng có lãi suất hấp dẫn sẽ hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở nhiều nơi. V ai trò đối với ngân hàng - Phát triên tín dụng bán lẻ là xu thế tất yếu, phù họp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo cho các ngân hàng đa dạng hóa kinh doanh, mở rộng các phân khúc khách hàng tiềm năng, mở rộng thị trường phân tán rủi ro, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng. - Trên giác độ tài chính, tín dụng bán lẻ đóng góp quan trọng vào việc tăng trưởng tín dụng và đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng. Tín dụng bán lẻ là một trong hai bộ phận trong nghiệp vụ cho vay của ngân hàng bên cạnh cho vay bán buôn, tốc độ cho vay bán lẻ tăng nhanh sẽ góp phần đẩy nhanh dư nợ, đồng thời cho vay bán lẻ có lãi suất cao hơn, đồng nghĩa với tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng.
- Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng yêu cầu các ngân hàng đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghệ 15 thông tin, cải tiến chất lượng sản phẩm, xây dựng mạng lưới kênh phân phối đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ, phục vụ một lượng khách hàng bán lẻ đông đảo. V ai trò của tín dụng bán lẻ đối vó i khách hàng Phát huy tôi đa nội lực KHCN, HGĐ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khai thác hêt tiêm năng về lao động đất đai, hàng hóa, máy móc, nhà xưởng.một cách hợp lý và có hiệu quả nhất.4 P h ân loại các h ìn h th ứ c tín d ụ n g dành ch o K H C N a. Phân loại theo th ò i hạn cấp tín dụng Thời hạn cấp tín dụng được tính từ khi giải ngân đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc, lãi và thường được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa NHTM và khách hàng. Việc phân chia tín dụng theo thời hạn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng, vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.
Thông thường theo tiêu thức chia này, các NHTM chia hoạt động tín dụng ra làm 3 loại: T ín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 01 năm. Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh tiền gửi, các khoản tiền gửi ngắn hạn thì các NHTM sẽ thường thực hiện tài trợ các khoản tín dụng ngắn hạn để đảm bảo khả năng thanh khoản. Phần lớn các khoản tín dụng ngắn hạn được cho vay đề bù đắp nguồn vốn lưu động thiếu hụt của khách hàng như cho vay cầm cố giấy tờ có giá, sổ tiết kiệm, cho vay thấu chi. Tín dụng tru n g hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ trên 01 năm đến 05 năm.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, sửa chữa nhà cửa, tiêu dùng cá nhân.