lời mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao chất lƣợng tín dụng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng nâng cao chất lƣợng tín dụng cá nhân tại TPBank Thái Nguyên. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng cá nhân tại TPBank Thái Nguyên.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng tín dụng cá nhân của các ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại về tín dụng đối với khách hàng cá nhân 1. Khái niệm * Khách hàng cá nhân Khách hàng cá nhân là nhóm các đối tƣợng bao gồm: cá nhân, chủ trang trại, hộ gia đình, tổ hợp tác… Nhóm đối tƣợng khách hàng này có số lƣợng rất lớn và nhu cầu vay các món nhỏ lẻ (Phạm Thu Thuỷ, 2017).
- Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài cƣ trú tại Việt Nam từ 18 tuổi trở lên bao gồm các đối tƣợng: + Cá nhân vay vốn sử dụng vào mục đích của cá nhân; + Cá nhân vay vốn sử dụng vào mục đích chung của gia đình; + Cá nhân vay vốn là chủ hộ kinh doanh vay vốn phục vụ hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh (hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh ; + Cá nhân vay vốn là chủ doanh nghiệp tƣ nhân vay vốn phục vụ nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tƣ nhân; + Cá nhân vay vốn sử dụng vào mục đích chung của tổ chức khác không có tƣ cách pháp nhân. - Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, nƣớc ngoài cƣ trú tại Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi thực hiện nhƣ khoản 1 Điều này, trừ các nhu cầu vay vốn liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký. * Tín dụng khách hàng cá nhân Khách hàng vay vốn của NHTM bao gồm các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế, các cá nhân và hộ gia đình, trong đó khách hàng là cá nhân và hộ gia đình là bộ phận ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tín 6 dụng của NHTM. Các cá nhân và hộ gia đình vay tiền từ NHTM để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ cho hoạt động đầu tƣ, sản xuất kinh doanh của mình.
Tín dụng khách hàng cá nhân là mảng tín dụng tập trung vào đối tƣợng khách hàng là những cá nhân, hộ gia đình. Các khoản vay này phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cá nhân nhƣ mua sắm các vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, sử dụng cho mục đích cá nhân hoặc phục vụ cho việc kinh doanh nhỏ lẻ của các hộ gia đình. Theo Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 2010 “Tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại bao gồm các hình thức tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho cá nhân hay hộ gia đình nhằm mục đích tiêu d ng, đầu tƣ hay sản xuất kinh doanh”. Hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân chủ yếu để giúp tài trợ cho việc mua ôtô, nhà ở, trang thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại hóa nhà cửa hay trang trải cho các khoản viện phí, đầu tƣ sản xuất kinh doanh hộ gia đình và các chi phí cá nhân khác.
Nhƣ vậy, hoạt động tín dụng KHCN là hình thức tín dụng mà Ngân hàng chuyển nhƣợng quyền sở hữu vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình với mục đích tiêu d ng và hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình đó với những điều kiện nhất định đƣợc thỏa thuận trong hợp đồng (Đình Tiến Dũng, 2020. Đặc điểm hoạt động tín dụng đối với KHCN - Đối tƣợng Là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình đó. Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN thƣờng có số lƣợng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhƣng thông thƣờng nhu cầu vay vốn của mỗi KHCN là không thƣờng xuyên và chịu sự 7 ảnh hƣởng rất lớn bởi môi trƣờng kinh tế, văn hóa - xã hội. Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của KHCN cũng khác nhau t y thuộc vào tình hình nền kinh tế, trình độ dân trí, thu nhập, tập quán, thói quen tiêu dùng của dân cƣ.
- Thời hạn của các khoản vay ngắn Với khách hàng là các doanh nghiệp thì các khoản vay thƣờng đƣợc sử dụng với mục đích tài trợ cho tài sản cố định hay xây dƣng nhà xƣởng… Còn với KHCN, chủ yếu các khoản vay là những khoản vay ngắn hạn, chỉ có một phần trung hạn, dài hạn hầu nhƣ không có. - Các khoản tín dụng có độ rủi ro cao Các khoản vay của KHCN thƣờng đƣợc đảm bảo bằng thu nhập của chính cá nhân đó. Tuy nhiên, nếu khách hàng gặp phải bất trắc nhƣ ốm đau, bệnh tật,… thì ngay lập tức thu nhập đó hoặc giảm sút hoặc thậm chí có thể mất đi hoàn toàn. NHTM luôn phải đối mặt với những rủi ro đó, mà công tác thẩm định, quản lí khách hàng lại không thể kiểm soát đƣợc hết tất cả.
Chính vì điều này, rất nhiều NHTM trong một thời gian dài trƣớc đây đã rất “ngại” cho KHCN vay vốn. Nhƣng hiện nay, nhận thấy hoạt động tín dụng đối với KHCN mang lại một nguồn thu không nhỏ nên các NHTM đã tập trung hƣớng tới mục tiêu này. Và công tác quản lí rủi ro ngày càng đƣợc các Ngân hàng quan tâm chú trọng hơn. - Khoản tín dụng có giá trị nhỏ nhƣng số lƣợng các khoản vay lớn Đặc điểm của KHCN là vay nợ với mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất hộ gia đình nên món vay thƣờng có giá trị nhỏ.
So với các khoản vay của các doanh nghiệp thì khoản vay này nhỏ hơn rất nhiều lần. Tuy vậy nhƣng đối tƣợng KHCN thƣờng là đông đảo nhất. Ngoài ra, các khoản vay của KHCN thƣờng xuyên phát sinh và khối lƣợng giao dịch ngày càng lớn. Vì số lƣợng khoản vay nhiều nên lợi nhuận từ hoạt động tín dụng KHCN sẽ không nhỏ nếu Ngân hàng biết cách huy động và làm tốt các công tác quản lí có liên quan khác (Hồ Diệu, 2008).
8 - Chi phí thẩm định lớn Để tránh gặp phải những rủi ro trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng thƣờng tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc vào hoạt động thẩm định và giám sát khoản vay một cách nghiêm ngặt. Ngoài ra, việc thu nhập thông tin cá nhân là rất khó khăn (thƣờng không đầy đủ và thiếu chính xác) nên các NHTM sẽ chấp nhận chi phí cao để đánh đổi rủi ro cao, đảm bảo an toàn cho các món vay. - Lãi suất thƣờng cao hơn so với lãi suất của các khoản vay khác Lãi suất áp dụng cho KHCN thƣờng cao hơn các lãi suất khác của các khoản vay khác của NHTM. Do quy mô của các khoản vay thƣờng không lớn nhƣng chi phí bỏ ra để quản lí lại rất lớn nên các NHTM phải đề ra mức lãi suất cao để b đắp chi phí (gồm chi phí về thời gian, nhân lực, thẩm định, quản lí….
Phân loại tín dụng khách hàng cá nhân Tại các NHTM hiện nay, các sản phẩm tín dụng cá nhân chủ yếu là chiết khấu giấy tờ có giá cho khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng cá nhân. Tuy nhiên, nhìn chung, chủ yếu các NHTM tập trung vào hoạt động cho vay là chủ yếu, chính vì vậy, trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ đề cập đến các sản phẩm cho vay. * Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vay khách hàng cá nhân bao gồm: Vay tiêu d ng và vay sản xuất kinh doanh. Vay tiêu d ng là khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình nhƣ: xây nhà, sửa nhà, mua xe ô tô, du học, chữa bệnh, cƣới hỏi;.
Vay sản xuất kinh doanh là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tƣ của cá nhân, hộ gia đình nhƣ:bổ sung vốn lƣu động, mua sắm tài sản cố định, đầu tƣ cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tƣ kinh doanh chứng khoán, vàng. 9 * Căn cứ vào phƣơng thức cho vay: Theo tiêu thức này, cho vay khách hàng cá nhân chủ yếu bao gồm: cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng. Cho vay từng lần là phƣơng pháp cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và Ngân hàng đều phải làm các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng tín dụng. Đây là hình thức cho vay theo món khi khách hàng có nhu cầu.
Cho vay trả góp là hình thức cho vay mà Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc đƣợc chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn vay. Cho vay theo hạn mức thấu chi là phƣơng thức cho vay mà Ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp nhận cho khách hàng chi vƣợt số tiền có trên số dƣ tài khoản thanh toán của khách hàng tới một hạn mức nhất định, trong thời gian nhất định. Hiện nay, phƣơng thức cho vay này đang đƣợc các NHTM thực hiện ngày càng rộng rãi bởi tính ƣu việt của nó. Hình thức cho vay này chủ yếu áp dụng với các cán bộ, nhân viên cơ quan Nhà nƣớc chứng minh đƣợc nguồn thu nhập đều đặn và ổn định.
Bản thân các NHTM hiện nay cũng thực hiện cho vay hạn mức thấu chi với chính đội ngũ nhân viên của mình. Cho vay theo hạn mức tín dụng là phƣơng pháp cho vay mà Ngân hàng và khách xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng, duy trì hạn mức cho vay đƣợc tính từ thời điểm hạn mức cho vay bắt đầu có hiệu lực, cho đến thời điểm hạn mức tín dụng đó hết hiệu lực hoặc hạn mức cho vay khác thay thế. Hiện nay sản phẩm cho vay theo hạn mức tín dụng đa dạng nhất là phát hành thẻ tín dụng, theo đó khách hàng đƣợc quyền rút theo hạn mức tín dụng đã đƣợc cấp trong một khoảng thời gian nhất định.