CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) 1.1 Khái niệm thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) Theo nguyên bản Điều 2, UCP600 (Uniforms Customs and Practice for Documentary Credits 2007 version), tín dụng chứng từ được định nghĩa như sau: “Credit means any arrangement, however named or described, that is irrevocable and thereby constitutes a definite undertaking of the issuing bank to honour a complying presentation”. “Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không huỷ ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp” (Nguyễn Trọng Thủy, 2009). Bản chất của phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận được thể hiện bằng nội dung một bức thư hay một bức điện, gọi là Thư tín dụng, Tín dụng thư (Letter of Credit). L/C do một ngân hàng phát hành là một cam kết chắc chắn thanh toán không hủy ngang cho người thụ hưởng theo chỉ thị của người yêu cầu, nếu như người này xuất trình được đầy đủ hồ sơ chứng từ phù hợp với các quy định trong L/C.
Do đó, LC được xem là một công cụ quan trọng, chuyển tải toàn bộ nội dung của phương thức tín dụng chứng từ. Cụ thể thuật ngữ “Tín dụng” được dùng theo nghĩa “Tín dụng chữ ký”, chứ không phải để chỉ “một khoản cho vay”, còn thuật ngữ “chứng từ” thể hiện đối tượng mà ngân hàng cấp tín dụng là bộ chứng từ xuất nhập khẩu. Bộ chứng từ là đại diện cho hàng hóa, nhưng khi cấp tín dụng chứng từ, thì ngân hàng không cần nhìn thấy hàng hóa và cũng không cần thẩm định hay định giá hàng hóa. Trong thực tế, có nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ : TDCT (Documentary Credit), Thư tín dụng (Letter of Credit), DC, LC,.
Tuy vậy chúng đều có nội dung thể hiện một thỏa thuận, theo đó ngân hàng hành động theo yêu cầu của một khách hàng trả tiền cho một người khác, khi bộ chứng từ đầy đủ, phù hợp được xuất trình. Do đó, tên gọi của phương thức Tín dụng chứng từ là tùy ý và không bắt buộc.2 Đặc trưng của thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) Do là một thỏa thuận bất kỳ, nên LC có tính chất rất đa dạng, phong phú, phức tạp và có những đặc trưng như sau: 1. LC là hợp đồng kinh tế hai bên : NHPH và nhà xuất khẩu. Xuất phát từ khái niệm, L/C là một thỏa thuận cam kết của ngân hàng phát hành thanh toán cho nhà xuất khẩu (người thụ hưởng) theo yêu cầu và chỉ thị của nhà nhập khẩu.
Do đó, trong thanh toán tín dụng chứng từ chỉ có hai bên là NHPH và nhà xuất khẩu, còn nhà nhập khẩu đã được NHPH đứng ra đại điện. LC độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hoá. (Điều 4, UCP600) LC được hình thành dựa trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng L/C hoàn toàn độc lập với hợp đồng này hoặc hợp đồng cơ sở khác để hình thành giao dịch L/C. Hợp đồng ngoại thương do hai bên nhà xuất khẩu và nhập khẩu ký kết và thỏa thuận về quy định nội dung thanh toán.
Còn L/C là cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành cho người thụ hưởng khi bộ chứng từ được xuất trình phù hợp. Ngân hàng phát hành không tham gia vào hợp đồng ngoại thương nên không có quyền lợi và nghĩa vụ trong hợp đồng đó. LC chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ. Trong giao dịch L/C, ngân hàng căn cứ vào các chứng từ xuất trình phù hợp để trả tiền cho nhà xuất khẩu và thu tiền từ nhà nhập khẩu, đồng nghĩa với việc ngân hàng không chịu trách nhiệm về hàng hóa thực tế có đúng trên chứng từ hay không.
LC yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ. Vì giao dịch bằng chứng từ nên việc các bên tuân thủ chặt chẽ, nghiêm túc và chính xác là rất quan trọng. Để được thanh toán, nhà xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ các điều khoản và quy định của L/C. LC còn là công cụ thanh toán hạn chế rủi ro và đôi khi còn là công cụ để từ chối thanh toán và lừa đảo.
Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận, một cam kết chắc chắn và không huỷ ngang của NHPH về việc thanh toán cho bên thụ hưởng khi xuất trình phù hợp. Vậy 6 nên tín dụng chứng từ còn là một công cụ thanh toán để phòng ngừa rủi ro cho nhà xuất khẩu và nhập khẩu. Tuy nhiên trên thực tế, cũng chính vì bản chất của L/C là giao dịch chứng từ, ngân hàng chỉ kiểm tra chứng từ trên bề mặt nổi và độc lập với hợp đồng, nên phương thức này có thể bị bọn lừa đảo lạm dụng để từ chối thanh toán và không giao hàng hoặc giao hàng không đúng.3 Quy trình hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) a. Các bên tham gia vào phương thức thanh toán tín dụng chứng từ: - Người yêu cầu (Applicant) là bên mà theo yêu cầu của họ, tín dụng được phát hành hay là người nhập khẩu hàng hóa.
- Người thụ hưởng (Beneficiary) là bên được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo LC hay là người bán, nhà xuất khẩu. - Ngân hàng thông báo (Advising bank) là ngân hàng đại lý hoặc một chi nhánh của NHPH ở nước nhà xuất khẩu, tiến hành thông báo LC cho người thụ hưởng theo yêu cầu của NHPH. - Ngân hàng phát hành (Issuing bank) là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo đơn của người yêu cầu. Quy trình thực nghiệp vụ LC Giáo trình Thanh toán quốc tế & tài trợ thương mại (2021,372) nêu rõ, đứng trên giác độ quốc gia, quy trình L/C có thể được chia theo 2 trường hợp: - Đối với L/C có giá trị thanh toán tại NHPH (thanh toán ở nước nhập khẩu) 7 Hình 1.1 : Quy trình nghiệp vụ L/C có giá trị thanh toán tại NHPH (1) Nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu ký kết hợp đồng ngoại thương, trong đó có điều khoản thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ.
(2) Nhà nhập khẩu sẽ đến làm đơn mở L/C đến ngân hàng của mình và yêu cầu ngân hàng phát hành một L/C cho người hưởng thụ (nhà xuất khẩu) dựa trên các điều khoản và điều kiện trong hợp đồng ngoại thương. (3) NHPH xem xét đơn mở L/C của khách hàng, nếu đồng ý, phát hành L/C và gửi thông qua ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà xuất khẩu để thông báo LC cho nhà xuất khẩu. (4) Sau khi nhận được L/C, NHTB kiểm tra, nếu L/C là chân thật thì thông báo L/C cho nhà XK, nếu không xác định được tính chân thật của L/C thì từ chối thông báo và thông báo cho NHPH về việc này. (5) Nhà xuất khẩu kiểm tra LC, nếu phù hợp với hợp đồng đã ký thì tiến hành giao hàng cho nhà nhập khẩu, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi, bổ sung LC cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương.
(6) và (6') Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình cho NHPH để được thanh toán. 8 (7) NHPH sau khi kiểm tra chứng từ, nếu thấy xuất trình phù hợp thì tiến hành thanh toán; nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà XK. (8) Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ. Trường hợp bộ chứng từ phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền cho NHPH, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền.
(9) NHPH trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu. - Đối với L/C có giá trị thanh toán tại NHĐCĐ (thanh toán tại nước XK) Hình 1.2 : Quy trình nghiệp vụ L/C có giá trị thanh toán tại NHĐCĐ Từ (1) đến (5) giống với quy trình L/C thanh toán tại NHPH. (6) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu sẽ xuất trình bộ chứng từ phù hợp theo yêu cầu của L/C cho NHĐCĐ để thanh toán. (7) NHĐCĐ kiểm tra bộ chứng từ.
Trường hợp bộ chứng từ phù hợp, NHĐCĐ thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu. (8) NHĐCĐ xuất trình bộ chứng từ cho NHPH. (9) NHPH kiểm tra bộ chứng từ. Trường hợp bộ chứng từ phù hợp, NHPH thanh toán cho NHĐCĐ, nếu không phù hợp, thì từ chối thanh toán và gửi trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho NHĐCĐ.
9 (10) Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ. Trường hợp bộ chứng từ phù hợp với L/C, nhà nhập khẩu thanh toán tiền cho NHPH, nếu không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền. (11) Sau khi đã nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán, NHPH gửi lại bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu.4 Vai trò của thanh toán tín dụng chứng từ a. Đối với nền kinh tế TDCT là một phương thức thanh toán trong hoạt động TTQT nên có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, cụ thể : - Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK của nền kinh tế như một tổng thể.
- Bôi trơn và thúc đẩy đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. - Thúc đẩy và mở rộng dịch vụ như hợp tác quốc tế. - Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế. Đối với doanh nghiệp XNK Đối với nhà xuất khẩu và nhập khẩu: Kiểm soát hàng hóa và tiền thông qua chứng từ vận tải bằng dịch vụ thanh toán của ngân hàng.
Từ đó cho thấy, thanh toán trong ngoại thương không thể thiếu được vai trò trung gian của ngân hàng. Đối với ngân hàng thương mại Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà XNK cũng có thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà thường phải thông qua ngân hàng với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu. Khi thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, các ngân hàng trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa hai bên mua bán. Nhờ TDCT, ngân hàng có thể mở rộng quan hệ thương mai quốc tế.
Ngày nay, hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán TDCT nói riêng là một dịch vụ quan trọng của NHTM, nó đem lại nguồn thu đáng kể.