mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách( séc), khách hàng mang séc đến ngân hàng để nhận được tiền. Tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt là an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập Thứ ba, Quản lý ngân quỹ 11 Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán Thứ tư, Tài trợ các hoạt động của Chính phủ Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng.
Các ngân hàng được cấp phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được; hoặc phải cho vay với điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ Thứ năm, Bảo lãnh Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không được vượt qua tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương mại Thứ sáu, Cho thuê tài chính Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng Ngoài các dịch vụ trên, ngân hàng thương mại còn có các dịch vụ khác: cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý 12 1. CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Luật các tổ chức tín dụng 2010: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng (TCTD) giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây là thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng.
Khái niệm cho vay của NHNo & PTNT Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 666/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 15/6/2010 của hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt Nam: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHNo & PTNT Việt Nam giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Tín dụng khách hàng cá nhân là cho vay bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ của ngân hàng đối với cá nhân và hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt, kinh doanh và nhu cầu hợp pháp khác. Phân loại và đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân 1. Phân loại Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình tín dụng khác nhau.
Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín 13 dụng nhằm sử dụng và quản lý vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng. Trên thực tế việc phân loại cho vay theo các tiêu thức sau: Thứ nhất, Phân theo mục đích sử dụng vốn: - Cho vay sản xuất hộ gia đình trong lĩnh vực chăn nuôi và trồng trọt - Cho vay sản xuất hộ gia đình trong lĩnh vực lâm, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản - Cho vay mua sắm công cụ lao động hoặc máy móc phục vụ nông nghiệp - Cho vay khác nhằm mục đích cải thiện đời sống nông thôn - Cho vay hỗ trợ tiêu dùng - Cho vay xây dựng sửa chữa nhà ( nhỏ hơn 70% chi phí xây dựng ) - Cho vay mua nhà, nền nhà, hoán đổi nhà - Cho vay SXKD - Cho vay mua xe cơ giới - Cho vay hỗ trợ du học Thứ hai, Phân loại theo thời hạn tín dụng - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động - Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư. Thứ ba, Phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng 14 - Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay - Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Thứ tư, Phân loại theo phương thức cho vay - Cho vay từng lần - Cho vay theo hạn mức tín dụng - Cho vay theo hạn mức thấu chi.
Thứ năm, Phân loại theo phương thức hoàn trả nợ vay - Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn - Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ, cho vay trả góp - Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy theo khả năng của khách hàng để trả nợ bất cứ lúc nào Thứ sáu, Theo xuất xứ tín dụng. - Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng trong đó Ngân hàng trực tiếp cấp tiền và thu nợ từ khách hàng. - Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng trong đó Ngân hàng cấp tiền vay cho 1 người nhưng lại đòi tiền từ người khác. Đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân - Đối tượng: Là các cá nhân và hộ gia đình có nh u cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình đó.
- Thời hạn vay vốn: Tuỳ thuộc vào từng mục đích vay vốn và hìnhthức cho vay mà các khoản vay của khách hàng cá nh ân có thời hạn: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. 15 - Qui mô món vay thường nhỏ nhưng số lượng món vay thường nhiều. Thông thường qui mô của mỗi khoản vay của khách hàng cá nhân thường nhỏ hơn các khoản vay của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở các NHTM số lượng các khoản vay này thường lớn.
Các NHTM hoạt động theo định hướng là ngân hàng bán lẻ, số lượng các khoản vay khách hàng cá nhân là rất lớn nên tổng qui mô các khoản vay khách hàng cá nhân thường chiếm tỷ trọng lớn hơn tổng dư nợ của ngân hàng - Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân thường phụ thuộc vào nhu cầu kinh tế( tăng trưởng, suy thoái…). Khác với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, khách hàng cá nhân thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn đa dạng nhưng thông thường nhu cầu vay vốn của mỗi khách hàng cá nhân là không thường xuyên và chịu ảnh hưởng lớn bởi môi trường kinh tế, văn hoá – xã hội. - Lãi suất của các khoản vay khách hàng cá nhân thường cao hơn các khoản vay khác của NHTM. Nguyên nhân là do các chi phí của cho vay lớn, các khoản vay khách hàng cá nhân lại có mức độ rủi ro cao.
Ở Việt Nam, lãi suất cho vay khách hàng cá nhân thông thường cao hơn lãi suất cho vay doanh nghiệp từ 1,2 đến 1,5 lần. - Chi phí cho vay thường lớn. Do các khoản vay khách hàng cá nhân thường có qui mô nhỏ nhưng số lượng các khoản vay này lại rất lớn nên các NHTM thường phải bỏ ra nhiều chi phí trong việc phát triển khách hàng, thẩm định, xét duyệt và quản lý các khoản vay. Nên chi phí tính đến mỗi đồng cho vay khách hàng cá nhân thường lớn hơn khoản vay doanh nghiệp.
- Các khoản vay khách hàng cá nhân chứa đựng nhiều rủi ro. Bởi: Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng thường không 16 cao; Tư cách khách hàng tuy quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay nhưng rất khó xác định; Tình hình tài chính của khách hàng cá nhân dễ thay đổi tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe; Trình độ sản xuất kinh doanh, nhạy bén thị trường và ứng phó với biến động thị trường là kém NHTM sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi khách hàng thất nghiệp, tai nạn, phá sản…. Lợi ích của tín dụng cá nhân Thứ nhất, Đối với nền kinh tế Cho vay cá nhân để tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu hàng hóa- dịch vụ trong nước có tác dụng kích cầu nền kinh tế, tận dụng tiềm năng về vốn để góp phần thúc đẩy phát triển kinh doanh tiêu dùng, nâng cao đời sống của người dân. Tạo điều kiện cho mọi cá nhân tiếp xúc với các dịch vụ của ngân hàng, phát triển hệ thống NHTM Thứ hai, Đối với ngân hàng Cho vay cá nhân để góp phần đa dạng hóa sản phẩm cho vay của ngân hàng, giúp tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các tổ chức tín dụng khác, đem lại nguồn thu ổn định cho ngân hàng, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.