chương 1, tác giả đã đi vào phân tích thực trạng khả năng công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Thanh Xuân. Từ đó chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó, từ đó làm căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp và kiến nghị ở chương 3, cụ thể như sau: Một là: Tác giả trình bày tổng quan về ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Thanh Xuân bao gồm quá trình hình thành phát triển, tổ chức bộ máy, tình hình hoạt động kinh doanh của VCB Thanh Xuân giai đoạn 2014-2017. Hai là:Tác giả đi vào phân tích đặc điểm dự án đầu tư vay vốn tại VCB Thanh Xuân. VCB Thanh Xuân tập trung dư nợ trong một vài lĩnh vực đầu tư tạo lợi thế cho việc chuyên môn hóa trong công tác thẩm định, công tác thẩm định sẽ được lặp đi lặp tại các các dự án trong cùng lĩnh vực, như vậy ngân hàng sẽ có nhiều kinh nghiệm về cách thức đánh giá hiệu quả dự án.
Quy mô các dự án đầu tư vay vốn tại VCB Thanh Xuân tương đối lớn. Ba là: Tác giả đã đi sâu vào phân tích thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại VCB Thanh Xuân giai đoạn 2014-2017. Trước hết tác giả trình bày mục tiêu và căn cứ tiến hành thẩm định dự án đầu tư tại VCB Thanh Xuân, sau đó trình bày quy trình thẩm định, phê duyệt dự án; nội dung thẩm định ( bao gồm nội dung thẩm định khách hàng vay vốn, thẩm định dự án đầu tư, thẩm định các biện pháp bảo đảm tiền vay). Bốn là: Tác giả nêu các phương pháp thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại VCB Thanh Xuân( bao gồm phương pháp thẩm định theo trình tự, phương pháp so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu, phương pháp phân tích độ nhạy,phương pháp dự báo) Năm là: Dựa trên sự phân tích trên, tác giả đưa ra đánh giá thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại VCB Thanh Xuân.
Những mặt đạt được: Chất lượng ix công tác thẩm định của ngân hàng ngày càng được nâng cao; quy trình tổ chức thẩm định chặt chẽ; nội dung thẩm định và phương pháp thẩm định khá đầy đủ, đồng bộ; phương tiện thẩm định luôn được tạo điều kiện tốt nhất. Bên cạnh đó còn có những hạn chế như: - Quy trình và tổ chức thẩm định chưa có sự chuyên môn hóa Quy trình thẩm định của VCB yêu cầu tất cả các dự án lớn cần phải trải qua hai bước đánh giá của bộ phận khách hàng và bộ phận phê duyệt tín dụng, chính vì vậy thời gian thẩm định một dự án sẽ phải kéo dài hơn. Đối với những dự án quy mô nhỏ thì bước tái thẩm định qua bộ phận phê duyệt tín dụng là không cần thiết. Chính vì vậy, quy trình thẩm định riêng đối với từng loại dự án tùy thuộc vào ngành nghề và quy mô của dự án đã được xây dựng hợp lý.
Tuy nhiên cho đến nay VCB Thanh Xuân chưa có phòng thẩm định riêng, cán bộ quan hệ khách hàng sẽ đồng thời là cán bộ thẩm định dự án đầu tư. Như vậy, công tác thẩm định vẫn được lồng ghép với nghiệp vụ tín dụng. Cán bộ tín dụng sẽ là người chịu trách nhiệm thực hiện rất nhiều việc từ tiếp nhận hồ sơ vay vốn, kiểm soát tính đầy đủ hợp lệ của các loại giấy tờ, thu thập thông tin để thẩm định khách hàng vay, thẩm định dự án đầu tư đến lập tờ trình rồi kiểm tra, giám sát theo dõi nợ vay… Khối lượng công việc lớn như vậy cộng thêm số các dự án thẩm định ngày càng tăng khiến cho các cán bộ không có đủ thời gian để thu thập các thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình thẩm định, từ đó làm giảm tính chính xác của các kết quả cuối cùng. - Nội dung thẩm định còn sơ sài ở một vài nội dung Trong quá trình thẩm định, việc tuân thủ theo quy trình thẩm định của các cán bộ thường chỉ mang tính hình thức.
Quá trình thẩm định dự án chủ yếu chỉ tập trung đánh giá khía cạnh tài chính cũng như khả năng trả nợ của chủ đầu tư, các nội dung khác mới chỉ được đánh giá một cách chung chung, sơ sài, không được quan tâm một cách đúng mức. - Phương pháp thẩm định chưa linh hoạt Các cán bộ thẩm định đã sử dụng các phương pháp cơ bản trong quá trình x thẩm định dự án, tuy nhiên việc vận dụng các phương pháp này còn chưa triệt để dẫn đến hiệu quả phương pháp không cao. Cụ thể như khi áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu, việc so sánh còn cứng nhắc, dự án so sánh chưa có sự tương đồng về lĩnh vực, quy mô cũng như tính chất. Hay trong phân tích thị trường dự án, cán bộ thẩm định đã vận dụng phương pháp dự báo, tuy nhiên ở mức độ còn hạn chế, mới chỉ sử dụng đến phương pháp ngoại suy thống kê mà chưa sử dụng đến các phương pháp khác như phương pháp hồi quy tương quan, phương pháp định mức và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Cán bộ thẩm định chưa có sự chuyên trách Đội ngũ cán bộ thẩm định chưa được phân công chuyên môn hoá trong công tác thẩm định, có cán bộ chuyên trách về thẩm định dự án. Nhiều cán bộ không được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ thẩm định dự án mà chủ yếu tự nghiên cứu tài liệu thẩm định nên trình độ còn nhiều hạn chế. Mặt khác ngân hàng cũng chưa có chương trình đào tạo tổng thể về thẩm định dự án, việc đào tạo mới chỉ dựa vào những chương trình tập huấn và bồi dưỡng trong ngắn hạn hoặc tự đào tạo. - Mạng lưới thông tin Việc thu thập thông tin đầy đủ mọi thông tin cần thiết và chính xác về khách hàng đang là một khó khăn không chỉ đối với ngân hàng VCB mà còn là khó khăn đối với nhiều ngân hàng thương mại khác.
Cơ sở thông tin dùng để phân tích thẩm định dự án chủ yếu vẫn dựa trên các tài liệu do khách hàng cung cấp. Việc thu thập các thông tin mới về khách hàng là rất khó. Các thông tin thu thập được từ các đối tác, bạn hàng của doanh nghiệp, từ các tổ chức tín dụng khác là rất hạn chế. Trong khi đó, việc khai thác thông tin từ phía các cơ quan nhà nước (như toà án, thuế, uỷ ban nhân dân, kiểm toán, kế hoạch đầu tư…) còn khá khó khăn, lí do là bởi vì hiện nay chưa có một cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các tổ chức cho vay và cơ quan nhà nước Sự phối hợp về mặt thông tin giữa các thành viên cũng chưa chặt chẽ, thường xuyên.
Khối lượng công việc của phòng khá lớn nên các cá nhân làm việc một cách xi độc lập, dự án phân công cho ai thì người đó tự tìm kiếm thông tin, tự thẩm định dựa vào năng lực của bản thân, ít có sự hợp tác, hỗ trợ qua lại lẫn nhau về mặt thông tin trong quá trình thẩm định. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian cũng như chất lượng thẩm định - Các hạn chế khác Việc thẩm định dự án đôi khi còn mang tính chủ quan, kết quả thẩm định còn ít nhiều phụ thuộc vào mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Thực tế chúng ta gặp nhiều trường hợp mà việc ngân hàng có quyết định cho vay hay không không chỉ phụ thuộc vào kết quả thẩm định mà còn phụ thuộc vào "tài sản vô hình đem ra thế chấp với ngân hàng"- đó là mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, do đó việc thẩm định trên thực tế chỉ mang tính thủ tục, hình thức. Vì thế mà có những dự án kết quả thẩm định cho thấy có thể cho vay thì chưa chắc đã được chấp thuận cho vay, trong khi có dự án mà kết quả thẩm định cho thấy không thể cho vay hoặc còn nhiều điều bất ổn thì lại được ngân hàng sẵn sàng cấp vốn.
Đây chính là nguy cơ chủ yếu dẫn đến những rủi ro tín dụng cho ngân hàng trong thời gian qua. Từ đó tác giả nêu ra các nguyên nhân của những hạn chế trên là do: - Nguyên nhân chủ quan ➢ Nội dung và quy trình thẩm định của ngân hàng đang trong quá trình hoàn thiện Quy trình thẩm định hiện nay của ngân hàng được xây dựng để áp dụng cho mọi loại dự án mà chưa có những văn bản hướng dẫn riêng cho từng loại dự án cụ thể. Những nội dung trong quy trình thẩm định còn chưa chi tiết dẫn đến nhiều cán bộ lúng túng và nhầm lẫn trong quá trình thực hiện. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự tùy tiện, sai sót trong nhiều trường hợp.
Về phương diện nội dung thẩm định, mặc dù đã có quy định khá đầy đủ các nội dung cần thực hiện trong quá trình thẩm định một dự án đầu tư, tuy nhiên trên thực tế việc thẩm định của ngân hàng mới chỉ tập trung vào hai phương diện chủ yếu là tài chính và phân tích thị trường dự án. Điều này cũng có thể lý giải bởi thực tế ngân hàng là một đơn vị kinh doanh, họ không có đủ nguồn lực để tiến hành thẩm xii định tất cả các yếu tố. Chính vì vậy các yếu tố còn lại chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ, đặc biệt là khía cạnh kinh tế- xã hội của dự án. Đây cũng là một thực tế chung ở hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam.
➢ Đội ngũ cán bộ thẩm định của VCB Thanh xuân Hiện nay, ngoài những cán bộ làm việc lâu năm, có kinh nghiệm hiện đang giữ các vị trí lãnh đạo và kiểm soát của bộ phận thẩm định thì cán bộ thẩm định của chi nhánh còn nhiều cán bộ có tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm làm việc chỉ từ 2-3 năm, do vậy mà còn bỡ ngỡ trong công tác thẩm định dự án. Hơn nữa các cán bộ này chỉ được đào tạo bài bản về các mảng tín dụng, tài chính mà không được đào tạo chuyên sâu về kinh tế đầu tư, về thẩm định dự án vì vậy nghiệp vụ thẩm định không nắm vững, dẫn đến đôi khi thẩm định dự án còn sơ sài, thiếu chính xác.