CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CẤP TỈNH 1.1 Khái niệm về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế - Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) - Chất lượng tăng trưởng kinh tế Theo nghĩa hẹp: là thuộc tính bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế, thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đạt được mặt số lượng của tăng trưởng và khả năng duy trì nó trong dài hạn. Theo nghĩa rộng: thể hiện năng lực sử dụng các yếu tố đầu vào, tạo nên tính chất, sự vận động của các chỉ tiêu tăng trưởng và ảnh hưởng lan tỏa của nó đến các lĩnh vực đời sống – kinh tế – xã hội – môi trường.2 Đánh giá quy mô, tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh 1.1 Thước đo quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh Cơ sở lý thuyết dùng để đánh gia là ba thước đo cơ bản: (1) tổng giá trị sản xuất (GO), (2) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và (3) GDP/người 1.2 Thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh Đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh được sử dụng trong đề tài gồm: (1) Hiệu quả tăng trưởng kinh tế, (2) Cấu trúc tăng trưởng kinh tế theo ngành và cơ cấu ngành kinh tế, (3) Cấu trúc đầu vào của tăng trưởng (K,L,TFP), (4) Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và (5) Các tác động lan tỏa của tăng trưởng.3 Các nhân tố tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh Từ phương pháp luận làm nổi yếu tố bao trùm, đó chính là mô hình tăng trưởng. Các nhân tố khác là các yếu tố đầu vào của tăng trưởng như lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học côn nghệ và các yếu tố vĩ mô như thể chế chính trị, văn hóa xã hội, hiệu lực quản lý của nhà nước.4 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một số tỉnh Bài học rút ra cho Nam Định từ thực tiễn chất lượng tăng trưởng kinh tế ở một số địa phương như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đà Nẵng là: Chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu; tăng cường thu hút vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; phát triển nguồn nhân lực; khuyến khích nghiên cứu ứng dụng, triển khai và đổi mới công nghệ trong các ngành, lĩnh vực phù hợp với yêu cầu của tỉnh; gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe và bảo vệ môi trường. iv CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 2.1 Tổng quan về tiềm năng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định Nam Định là tỉnh nhiều điều kiện để mở mang phát triển kinh tế như địa kinh tế thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào và chăm chỉ, có thế mạnh về văn hóa – du lịch, có nhiều làng nghề truyền thống phát triển và là tỉnh đang hình thành môi trường đầu tư thuận lợi.2 Thực trạng về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quy mô GDP toàn tỉnh năm sau cao hơn năm trước (năm 2001 thì GDP toàn tỉnh đạt 4.045 triệu đồng thì đến năm 2005 con số đó là 6.639 triệu đồng và đến năm 2010 đã đạt 10.
Như vậy, sau 10 năm thì quy mô tăng trưởng đã tăng lên xấp xỉ 2,5 lần. Về tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt khá cao (thấp nhất là 6,39% năm 2001 và cao nhất là 11,52% năm 2006) và tương đối ổn định. Tuy nhiên, tốc độ tăng GDP đồng đều ở giai đoạn 2001-2005 bình quân hơn 7% và đột biến tăng lên bình quân 11% giai đoạn 2006-2008, sau đó xuống dốc vào năm 2009 (7,15%) và quay đầu phục hồi vào năm 2010 (10,5%). Đây là dấu hiệu phục hồi sau ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009.
- Đối với các nhóm ngành kinh tế: Hều hết cả ba ngành đều có quy mô năm sau cao hơn năm trước (ngoại trừ ngành nông, lâm, thủy sản có quy mô năm 2006 thấp hơn năm 2005). Tuy nhiên, mức độ tăng của cả ngành đều không có sự đột phá. Những dấu hiệu trên cho thấy rằng cơ cấu ngành sẽ có sự chuyển dịch theo hướng hiện đại một cách chậm chạp. Về tốc độ tăng trưởng, ngành nông, lâm, thủy sản có tốc độ tăng trưởng thấp nhất và không đồng đều.
- Đối với các thành phần kinh tế: Tổng cả giai đoạn 2000-2010, thì quy mô tổng sản phẩm toàn tỉnh đạt 76.805 triệu đồng; thành phần kinh tế nhà nước đạt 17.035 triệu đồng, trong đó kinh tế nhà nước trung ương đạt 9.724 triệu đồng và kinh tế nhà nước địa phương đạt 8.311 triệu đồng; thành phần kinh tế ngoài nhà nước đạt cao nhất 57.092 triệu đồng; thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1. Như vậy, dẫn đầu là thành phần kinh tế ngoài nhà nước, thứ đến là kinh tế nhà nước và cuối cùng là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 2.3 Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Nam Định giai đoạn 2001-2010 2.1 Thực trạng về hiệu quả tăng trưởng kinh tế của tỉnh v - Về tỷ lệ chi phí trung gian: Số liệu nghiên cứu phản ánh nền kinh tế Nam Định là nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào “gia công”, phụ thuộc vào nguồn hàng hóa nhập khẩu bên ngoài và hiệu quả tăng trưởng là thấp. Cụ thể, nếu như năm 2003, tỷ lệ chi phí trung gian là 44,96% thì đến 2010 đã tăng lên 57,27%. Chi phí trung gian ở Nam Định cao do nhiều nguyên nhân trong đó có việc sử dụng công nghệ cũ và lạc hậu dẫn đến tiêu hao nhiều nguyên vật liệu và năng lượng.
Ngay cả ngành công nghiệp, mặc dù đạt được nhiều kết quả vượt trội, nhưng trình độ công nghệ cũng thấp kém và hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực may mặc, da giày,. là những lĩnh vực ít tạo giá trị gia tăng. - Về năng suất lao động: Số liệu về năng suất lao động của tỉnh Nam Định cho thấy đã tăng lên theo từng năm song vẫn thấp hơn mức trung bình của cả nước. Ngành nông, lâm, thủy sản có năng suất lao động thấp nhất.
Nhóm ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn biến đổi nhanh hơn. - Về hệ số ICOR: Hệ số ICOR càng về sau càng tăng và có vẻ như chưa chặn lại được, điều này đồng nghĩa với hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đang ngày càng giảm sút. Trong các nguyên nhân làm cho hiệu quả đầu tư giảm, thì đáng chú ý là do đầu tư vào “vỏ” nhiều hơn “ruột”, đầu tư phân tán, dàn trải do bị co kéo, điều chỉnh nhiều (đây thực chất là hậu quả của tệ nạn “xin – cho” ở khu vực đầu tư công). … - Về mật độ kinh tế: mật độ kinh tế của tỉnh Nam Định đã tăng dần lên theo từng năm, chứng tỏ rằng sản lượng kinh tế tạo ra trên một đơn vị diện tích có xu hướng biến đổi tích cực, tính hiệu quả của nền kinh tế và mức độ hấp dẫn của nền kinh tế tỉnh Nam Định được cải thiện theo thời gian.
Tuy nhiên, so sánh với đồng bằng sông Hồng thì mật độ kinh tế của Nam Định thấp hơn rất nhiều và ngày càng có xu hướng cách xa hơn. Còn nếu so sánh với cả nước thì tình hình có vẻ khả quan hơn khi con số phản ánh mật độ kinh tế của tỉnh luôn cao hơn trung bình khoảng 3 lần so với cả nước.2 Thực trạng về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Số liệu cho thấy, Nam Định là một tỉnh đã và đang chuyển dịch theo hướng hiện đại khi xem xét cơ cấu ngành kinh tế. - Khi xem xét nền kinh tế chỉ bao gồm các ngành nông, lâm, thủy sản; xây dựng, công nghiệp và dịch vụ thì cơ cấu ngành kinh tế có sự thay đổi theo từng năm: ngành nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng cao nhất và giảm dần đều từ 40,95% năm 2000 xuống 31,93% năm 2005 và 24,88% năm 2010. Trong khi đó, ngành công nghiệp, xây dựng lại có xu hướng tăng đều từ 21,58% năm 2000 đến vi 29,96% năm 2005 và đạt 39,62% vào năm 2010.
Ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng tương đối ổn định, đạt mức trung bình 37%/năm và có giảm nhẹ vào những năm cuối giai đoạn. Như vậy, có sự đổi chiều ngoạn mục giữa ngành nông, lâm, thủy sản và công nghiệp, xây dựng. Đây là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển.3 Thực trạng về cấu trúc đầu vào của tăng trưởng Theo ông Nguyễn Viết Quý – Phó Giám đốc Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh Nam Định thì mức độ đóng góp vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2001-2010 của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là 21,81%; của lao động xấp xỉ 22,70% và của vốn là 55,49%. Như vậy, cấu trúc đầu vào của tăng trưởng kinh tế được quyết định chủ yếu bởi nhân tố vốn; mô hình tăng trưởng theo chiều rộng vì tỷ trọng vốn và lao động đóng góp đến 78%.4 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của tỉnh Chỉ số PCI tỉnh Nam Định đã tiến bộ vượt bậc trong thể hiện ở việc chuyển từ nhóm PCI thấp năm 2005 sang nhóm PCI trung bình trong giai đoạn 2006-2009 và nhóm PCI khá năm 2010.
Đó là kết quả chỉ đạo việc nghiên cứu, đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng điều hành kinh tế để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, sự thay đổi này rất ít. Dù đã có đến hơn 2/3 điểm số của các tiêu chí được cải thiện, song mức độ thay đổi là không nhiều, sự tiến bộ còn chưa tương xứng với thực tế. Nhưng dù sao cũng đã làm điểm số tổng hợp về năng lực cạnh tranh của tỉnh được nâng lên.5 Thực trạng về tác động lan tỏa của tăng trưởng - Về thu nhập bình quân đầu người: Quy mô GDP/người năm sau luôn lớn hơn năm trước Năm 2001 đạt 2.489,3 triệu đồng, năm 2005 đạt 3.455,8 triệu đồng và năm 2010 đạt 5,715,4 triệu đồng.
Tức là sau 10 năm mức thu nhập bình quân đầu người đã tăng lên gần 2,5 lần. tốc độ tăng trưởng GDP/người không đều và có thể chia thành hai giai đoạn 2001-2004 đạt trung bình xấp xỉ hơn 6% và giai đoạn sau 2005- 2010 đạt trung bình xấp xỉ hơn 10%, cá biệt có năm 2009 đạt 7,01% (thực chất là do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế). Như vậy tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cả giai đoạn đạt 9,32%/năm.